Nuôi tôm sử dụng rất ít nước ngọt trực tiếp, chỉ cần lượng nước cho mục đích uống, vệ sinh và một vài mục đích khác trong trang trại.

Vấn đề khan hiếm nước hiện nay và trong tương lai đã được đề cập rộng rãi. Tuy nhiên, tổng lượng nước trên Trái Đất hiện nay vẫn không thay đổi so với trước đây và cũng sẽ không gia tăng trong tương lai. Tình trạng thiếu nước chủ yếu xuất phát từ các nguyên nhân như hạn hán, sự gia tăng nhanh dân số tại các khu vực khô hạn, quản lý tài nguyên nước chưa hiệu quả, xung đột trong và giữa các quốc gia, mở rộng diện tích nông nghiệp có tưới tiêu và, tương tự như đối với nhiều loại tài nguyên khác, là sự khai thác quá mức do con người.
Các số liệu về lượng nước sử dụng trong nuôi tôm được trình bày trong nghiên cứu này được thu thập từ các cuộc khảo sát tại các trang trại nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) ở năm quốc gia có sản lượng tôm nuôi lớn. Số lượng trang trại tham gia khảo sát lần lượt là 101 tại Ecuador, 89 tại Ấn Độ, 131 tại Indonesia, 34 tại Thái Lan và 30 tại Việt Nam. Các dữ liệu này đã được tổng hợp và trình bày chi tiết hơn trong một bài báo tổng quan được công bố trên Aquaculture, Fish and Fisheries (2021, 1–13).
Sử dụng nước trong nuôi tôm
Lượng nước ngọt bền vững và có thể khai thác hằng năm cho nhu cầu của con người thường được xác định dựa trên lưu lượng dòng chảy ngoài mùa lũ kết hợp với lượng nước được tích trữ trong các hồ chứa trên những con sông lớn. Mặc dù nước ngầm cũng được khai thác để phục vụ nhiều mục đích, việc sử dụng nguồn nước ngầm nông có thể làm giảm lưu lượng dòng chảy ngoài mùa lũ. Đối với các tầng nước ngầm sâu, quá trình bổ sung diễn ra trong thời gian dài và vì vậy nguồn nước này thường không được tính vào tổng lượng nước bền vững có thể sử dụng cho con người.
Hoạt động nuôi tôm chỉ sử dụng một lượng rất nhỏ nước ngọt trực tiếp, chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt như nước uống, vệ sinh và một số mục đích khác trong trang trại. Tuy nhiên, nước ngọt còn được sử dụng gián tiếp trong quá trình sản xuất thức ăn, nhiên liệu và các đầu vào phục vụ quản lý nuôi trồng. Phần nước này được gọi là lượng nước sử dụng gián tiếp. Bên cạnh đó, nước mặn cũng được xem xét trong đánh giá vì năng lượng được tiêu thụ để bơm nước vào các ao nuôi và do nước thải từ các trang trại có chứa các chất gây ô nhiễm.
Trong khảo sát tại năm quốc gia, lượng nước mặn được sử dụng ở các trang trại nuôi tôm phụ thuộc vào phương thức quản lý nước. Những trang trại không áp dụng biện pháp thay nước trong suốt chu kỳ nuôi có mức sử dụng nước thấp nhất tính trên mỗi tấn tôm sản xuất. Ngoài ra, một số trang trại không thay nước còn tái sử dụng một phần nước thải sau thu hoạch, góp phần giảm lượng nước sử dụng xuống thấp hơn nữa.
Tỷ lệ các trang trại áp dụng phương pháp thay nước hằng ngày có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia, dao động từ 21% tại Ấn Độ đến 94% tại Indonesia (Bảng 1). Tính trung bình có trọng số cho tất cả các quốc gia khảo sát, có 67% trang trại thực hiện thay nước hằng ngày. Đối với các trang trại áp dụng phương pháp này, lượng nước mặn sử dụng tăng tương ứng với tỷ lệ thay nước, trong khoảng từ 1–40% thể tích ao nuôi mỗi ngày. Tỷ lệ thay nước hằng ngày trung bình cũng khác nhau giữa các quốc gia, thấp nhất là 5% tại Thái Lan và cao nhất là 21% tại Ấn Độ (Bảng 1), với giá trị trung bình có trọng số của năm quốc gia đạt 8,0% thể tích ao nuôi mỗi ngày.

Lượng nước mặn sử dụng trong nuôi tôm dao động từ 11.409 m³/tấn tôm tại Thái Lan đến 74.130 m³/tấn tôm tại Ecuador (Bảng 1). Giá trị trung bình có trọng số của năm quốc gia đạt 50.146 m³/tấn tôm. So với các quốc gia khác, Thái Lan sử dụng lượng sục khí trên mỗi hecta cao hơn, trong khi Ecuador có mức sử dụng sục khí thấp hơn. Tuy nhiên, không ghi nhận xu hướng giảm rõ rệt về tỷ lệ trao đổi nước khi mức độ sục khí tăng.
Lượng nước ngọt tích hợp chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng lượng nước sử dụng (Bảng 1). Mức sử dụng nước ngọt tích hợp dao động từ 2.411 đến 2.670 m³/tấn tôm giữa các quốc gia, với giá trị trung bình có trọng số là 2.557 m³/tấn tôm. Tính theo trung bình có trọng số, nước ngọt tích hợp chỉ chiếm 4,3% trong tổng lượng nước sử dụng là 52.700 m³/tấn tôm. Nghiên cứu không tính toàn bộ lượng nước ngọt sử dụng do thiếu dữ liệu về lượng nước ngọt được sử dụng trực tiếp tại các trang trại cho mục đích sinh hoạt, vệ sinh và các nhu cầu khác. Tuy nhiên, lượng nước này được cho là không đáng kể.
Phần lớn lượng nước ngọt được sử dụng gián tiếp trong sản xuất thức ăn chăn nuôi phục vụ quá trình sản xuất nguyên liệu. Việc trồng trọt các loại cây làm nguyên liệu thức ăn cần tiêu thụ một lượng nước đáng kể. Theo đó, bột thực vật và các thành phần khác trong thức ăn dành cho tôm chứa từ 1.261 đến 2.179 m³ nước ngọt tích hợp trên mỗi tấn thức ăn, với giá trị trung bình khoảng 1.612 m³/tấn. Do vậy, gần như toàn bộ lượng nước ngọt tích hợp trong sản xuất tôm nuôi có nguồn gốc từ thức ăn chăn nuôi.
Mặc dù tổng lượng nước sử dụng trong hoạt động nuôi tôm tương đối lớn, nhưng nước ngọt chỉ chiếm dưới 5% tổng lượng nước sử dụng. Vì vậy, việc sử dụng nước ngọt trong nuôi tôm hiện không được xem là mối quan ngại đáng kể. Tuy nhiên, việc cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) có thể góp phần giảm lượng nước ngọt cần sử dụng trong quá trình sản xuất tôm nuôi.
Các chất gây ô nhiễm và quản lý
Mối quan ngại lớn nhất liên quan đến việc sử dụng nước trong nuôi tôm là lượng nước thải phát sinh từ các trang trại. Nước thải này thường chứa hàm lượng cao chất rắn lơ lửng (làm tăng độ đục), nitơ, phốt pho và nhu cầu oxy sinh học (BOD). Khi được xả vào các nguồn nước tự nhiên, chúng có thể gây ra hiện tượng tăng độ đục của nước, lắng đọng trầm tích tại khu vực cửa xả, đồng thời kích thích sự phát triển của thực vật phù du và làm gia tăng nhu cầu oxy, từ đó dẫn đến hiện tượng phú dưỡng.
Ao nuôi có khả năng loại bỏ một phần các chất ô nhiễm trong nước một cách hiệu quả. Quá trình phân hủy của vi sinh vật giúp làm giảm nhu cầu oxy; hợp chất nitơ chủ yếu là amoniac được chuyển hóa thành nitrat ít độc hơn thông qua quá trình nitrat hóa; tiếp theo, nitrat được chuyển thành khí nitơ nhờ quá trình khử nitrat và khuếch tán vào khí quyển. Bên cạnh đó, phốt pho được giữ lại trong lớp trầm tích đáy ao. Tuy nhiên, việc tăng cường thay nước sẽ làm giảm thời gian lưu giữ thủy lực trong ao, khiến khả năng loại bỏ các chất ô nhiễm giảm xuống và làm gia tăng lượng chất ô nhiễm thải ra nguồn nước tiếp nhận.
Các chất ô nhiễm có trong nước thải nuôi tôm chủ yếu bắt nguồn từ thức ăn dư thừa, chất thải của tôm và các sản phẩm của quá trình trao đổi chất. Để giảm thiểu ô nhiễm, cần áp dụng chế độ cho ăn hợp lý nhằm hạn chế thức ăn dư; duy trì hệ thống sục khí đầy đủ để ngăn ngừa tình trạng thiếu oxy hòa tan, vì điều này có thể làm giảm khả năng bắt mồi của tôm; đồng thời theo dõi hoạt động của các vi sinh vật hiếu khí, bao gồm cả quá trình nitrat hóa. Ngoài ra, cần hạn chế thay nước nhằm kéo dài thời gian lưu giữ thủy lực trong ao, qua đó nâng cao khả năng xử lý chất thải của hệ thống ao nuôi. Việc giảm lượng nước thay còn góp phần tiết kiệm năng lượng do giảm nhu cầu bơm nước.
Theo Claude E. Boyd, Robert P. Davis, Aaron McNevin
Nguồn: https://www.globalseafood.org/advocate/a-comparison-of-resource-use-in-shrimp-farming-part-2-water/
Biên dịch: Nguyễn Thị Quyên – Tôm Giống Gia Hoá Bình Minh
Đọc thêm:
- Phân Tích Hiệu Suất Sản Xuất Nuôi Tôm Litopenaeus vannamei Và Chất Lượng Nước Trong Ao Đất Và Ao Lót HDPE
- Vai Trò Then Chốt Của Dinh Dưỡng Và Thức Ăn Cho Cá: Những Tiến Bộ Gần Đây Và Triển Vọng Tương Lai Cho Ngành Nuôi Trồng Thủy Sản Brazil
- Chiến Lược Nuôi Tôm Thẻ Chân Trắng Cỡ Lớn (Litopenaeus Vannamei) Ở Các Vùng Bán Khô Hạn Của Ả Rập Xê Út
English
中文 (中国)
SẢN PHẨM PHỤC VỤ NỀN NÔNG NGHIỆP XANH
TIN TỨC NỔI BẬT
So Sánh Việc Sử Dụng Tài Nguyên Trong Nuôi Tôm, Phần 2: Nước
Nuôi tôm sử dụng rất ít nước ngọt trực tiếp, chỉ cần lượng nước cho [...]
Th9
So Sánh Việc Sử Dụng Tài Nguyên Trong Nuôi Tôm, Phần 1: Đất Đai
Năng suất sản xuất tôm có thể được tăng lên đáng kể mà không cần [...]
Th9
Cải Tạo Ao Theo Quy Trình Cân Bằng Sinh Học
Cải tạo ao theo quy trình cân bằng sinh học là giải pháp tối ưu [...]
Th9
Nghiên Cứu Cho Thấy Động Vật Giáp Xác Biển Có Thể Tái Chế Chất Thải Nông Nghiệp Thành Thức Ăn Nuôi Trồng Thủy Sản
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng động vật giáp xác biển có [...]
Th9
Tôm Giống Phù Hợp Với Quy Trình Cân Bằng Sinh Học
Quy trình cân bằng sinh học là phương pháp nuôi theo hướng an toàn và [...]
Th9
Ảnh Hưởng Của Chất Lượng Nước Đến Sức Khỏe Và Năng Suất Của Cá Và Tôm, Phần 3: Các Hợp Chất Nitơ Amoni, Nitrit Và Nitrat
Việc giám sát và kiểm soát hiệu quả nồng độ amoniac, nitrit và nitrat đóng [...]
Th9
Lợi Ích Của Quy Trình Nuôi Tôm Cân Bằng Sinh Học
Nuôi tôm cân bằng sinh học đang trở thành xu hướng tất yếu trong ngành [...]
Th8
Quy Trình Nuôi Tôm Cân Bằng Sinh Học – BBA Bio Balance Aquaculture
Ngành nuôi tôm không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn [...]
Th8
Cân Bằng Sinh Học Trong Nuôi Tôm: Hướng Đi Mới Cho Ngành Thủy Sản Việt Nam
Ngành nuôi tôm không chỉ đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo an [...]
Th8
BBA – Bio-Balance Aquaculture – Quy Trình Cân Bằng Sinh Học Trong Nuôi Trồng Thủy Sản
BBA là từ viết tắt của Bio-Balance Aquaculture trong nuôi trồng thủy sản – đây [...]
Th8
Cân Bằng Sinh Học Trong Nuôi Tôm Là Gì?
Trong những năm gần đây, nuôi tôm công nghiệp ngày càng phát triển mạnh mẽ. [...]
Th8
Nuôi Tôm Bền Vững: Giải Pháp Cân Bằng Sinh Học Từ Bình Minh
Dịch bệnh hoành hành, kháng sinh mất dần hiệu quả, người nuôi tôm loay hoay [...]
Th8