Năng suất sản xuất tôm có thể được tăng lên đáng kể mà không cần sử dụng thêm đất trực tiếp cho các trang trại nuôi tôm.

Sử dụng đất là một trong những yếu tố quan trọng trong công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Hai vấn đề được quan tâm song song là bảo vệ các môi trường sống tự nhiên và đảm bảo quỹ đất sản xuất đáp ứng nhu cầu hiện tại cũng như tương lai về lương thực và sợi.
Kể từ năm 1950, sản lượng lương thực toàn cầu đã tăng hơn ba lần, đồng thời dân số thế giới cũng tăng gấp ba. Nhờ đó, lượng lương thực bình quân đầu người hiện nay vẫn cao hơn một chút so với những năm 1950. Trong khi đó, diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp chỉ tăng khoảng 10% so với cùng thời điểm. Hiện nay, khoảng 38% diện tích đất liền trên thế giới được sử dụng cho sản xuất lương thực. Vì vậy, nếu nông nghiệp không tiếp tục được thâm canh hóa, quỹ đất hiện có sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu lương thực của con người và vật nuôi.
Sử dụng đất trong nuôi tôm
Dữ liệu về sử dụng đất trong nuôi tôm được trình bày trong nghiên cứu này được thu thập thông qua khảo sát các trang trại nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) tại năm quốc gia xuất khẩu tôm nuôi chủ lực. Số lượng trang trại tham gia khảo sát gồm 101 trang trại ở Ecuador, 89 trang trại ở Ấn Độ, 1.341 trang trại ở Indonesia, 34 trang trại ở Thái Lan và 30 trang trại ở Việt Nam. Các dữ liệu này đã được tổng hợp và trình bày chi tiết hơn trong một bài báo tổng quan (Aquaculture, Fish, and Fisheries, 2021, 1–13).
Hoạt động nuôi tôm đòi hỏi quỹ đất để xây dựng và vận hành hệ thống trang trại. Thông thường, tổng diện tích đất sử dụng lớn hơn từ 1,2 đến 2,2 lần so với diện tích mặt nước của ao nuôi. Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ diện tích đất trên diện tích mặt nước sản xuất (LWR) trung bình dao động từ 1,22 tại Ecuador đến 2,04 tại Thái Lan (Bảng 1). Tính chung cho năm quốc gia xuất khẩu tôm hàng đầu, giá trị LWR trung bình đạt 1,67.

Một chỉ số có ý nghĩa về việc sử dụng đất tại các trang trại là diện tích cần thiết cho mỗi tấn tôm sản xuất hàng năm. Diện tích đất nông nghiệp trực tiếp dành cho nuôi trồng tôm dao động từ 0,09 ha/tấn ở Indonesia đến 0,20 ha/tấn ở Ấn Độ (Bảng 2) với mức trung bình có trọng số là 0,15 ha/tấn.

Nuôi tôm bằng thức ăn chăn nuôi
Bảng 2 trình bày sản lượng tôm thẻ chân trắng được nuôi bằng thức ăn công nghiệp. Trong khi đó, một tỷ lệ nhỏ tôm thẻ chân trắng và phần lớn tôm sú được nuôi theo phương pháp quảng canh, không sử dụng hoặc chỉ sử dụng rất ít thức ăn bổ sung. Diện tích dành cho nuôi quảng canh khoảng 1,8 triệu ha, gần tương đương với 1,7 triệu ha của các trang trại nuôi thâm canh sử dụng thức ăn. Tuy nhiên, các trang trại nuôi quảng canh chỉ đóng góp 11,4% tổng sản lượng tôm nuôi toàn cầu vào năm 2018. Tổng sản lượng tôm nuôi trong năm này đạt khoảng 6 triệu tấn, với nhu cầu sử dụng đất trực tiếp của mô hình quảng canh khoảng 2,5 ha cho mỗi tấn sản phẩm.
Các trang trại nuôi tôm quy mô lớn chủ yếu được xây dựng trong vùng triều, trong khi các trang trại nuôi tôm sử dụng thức ăn thường được bố trí ở những khu vực nằm trên mực nước triều cao nhất. Phần lớn diện tích rừng ngập mặn và các vùng đất ngập nước bị chuyển đổi cho hoạt động nuôi tôm có liên quan đến các mô hình nuôi quy mô lớn. Vì vậy, việc phát triển thêm các trang trại nuôi tôm quy mô lớn trong vùng triều không nên được khuyến khích và các cơ quan quản lý không nên cho phép mở rộng loại hình này. Tuy nhiên, việc chấm dứt hoạt động của các trang trại quy mô lớn hiện có có thể dẫn đến những tác động đáng kể về mặt xã hội và kinh tế tại địa phương.
Nuôi tôm bằng thức ăn công nghiệp phụ thuộc vào các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật được sản xuất trên đất nông nghiệp. Đối với bảy công thức thức ăn được khảo sát, diện tích đất cần thiết để sản xuất nguyên liệu thức ăn dao động từ 0,14 đến 0,34 ha/tấn thức ăn, với giá trị trung bình là 0,202 ha/tấn. Diện tích đất sử dụng cho nguyên liệu thức ăn trên mỗi tấn tôm chịu ảnh hưởng bởi cả lượng đất cần thiết để sản xuất một tấn thức ăn và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), được xác định theo công thức: diện tích đất/tấn thức ăn × FCR = diện tích đất sử dụng cho thức ăn/tấn tôm. Kết quả cho thấy diện tích đất sử dụng cho thức ăn ở năm quốc gia được nghiên cứu khá tương đồng, dao động từ 0,27 đến 0,30 ha/tấn tôm, với giá trị trung bình có trọng số của tất cả các quốc gia là 0,28 ha/tấn tôm.
So với diện tích đất sử dụng trực tiếp cho hoạt động nuôi, diện tích đất dành cho sản xuất thức ăn chăn nuôi lớn hơn đáng kể (Bảng 2). Đất phục vụ nuôi tôm thường phân bố tại các vùng ven biển, là những khu vực có giá trị sinh thái cao hơn so với đất nông nghiệp ở khu vực nội địa. Bên cạnh đó, mọi hình thức sản xuất thịt đều phụ thuộc ở mức độ lớn vào nguồn thức ăn chăn nuôi. Vì vậy, khi tiêu thụ một khẩu phần tôm, người tiêu dùng thường thay thế một phần các loại thịt khác, vốn cũng đòi hỏi diện tích đất để sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Diện tích đất trung bình cần để sản xuất một tấn thức ăn cho gà thịt là 0,21 ha, tương đương với diện tích cần thiết để sản xuất thức ăn cho tôm. Trong khi đó, thức ăn dành cho lợn và bò thịt đòi hỏi diện tích đất lớn hơn, với mức trung bình lần lượt là 0,307 ha/tấn và 0,247 ha/tấn. Điều này cho thấy nuôi tôm có thể không làm gia tăng tổng diện tích đất sử dụng cho sản xuất lương thực trên phạm vi toàn cầu, vì lượng thức ăn bổ sung cho nuôi tôm được bù đắp thông qua việc thay thế một phần sản lượng của các loại thịt khác.
Ngoài đất sử dụng để sản xuất nguyên liệu thức ăn, đất còn được sử dụng để sản xuất đường và mật rỉ, là các nguồn carbohydrate được bổ sung trong một số hệ thống nuôi tôm thâm canh. Diện tích đất cần thiết để sản xuất đường thô là 0,09 ha/tấn, trong khi mật rỉ chỉ cần 0,02 ha/tấn. So với nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, diện tích đất phục vụ sản xuất các nguồn carbohydrate bổ sung cho ao nuôi là tương đối nhỏ.
Tổng diện tích đất sử dụng để sản xuất một tấn tôm, bao gồm diện tích ao nuôi trực tiếp, diện tích dành cho sản xuất nguyên liệu thức ăn và diện tích phục vụ sản xuất các nguồn carbohydrate, dao động từ 0,37 ha/tấn tại Indonesia đến 0,50 ha/tấn tại Ấn Độ (Bảng 2). Giá trị trung bình có trọng số của năm quốc gia được khảo sát là 0,43 ha/tấn.
Giảm diện tích đất sử dụng trong nuôi tôm
Hai giải pháp chủ yếu nhằm giảm diện tích đất sử dụng trong sản xuất tôm là cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và nâng cao cường độ nuôi trong ao. Bên cạnh đó, tỷ lệ diện tích đất trên diện tích ao nuôi (LWR) cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất. Tuy nhiên, tại một số quốc gia, giá trị LWR thấp chủ yếu xuất phát từ việc sử dụng hạn chế các hồ chứa và bể lắng. Vì vậy, cần khuyến khích tăng cường đầu tư vào các công trình này, đặc biệt tại Thái Lan. Diện tích đất dành cho từng loại công trình trong các trang trại được trình bày ở Bảng 1.
Các tính toán về nhu cầu sử dụng đất được thực hiện trên các trang trại áp dụng hình thức nuôi bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh, sử dụng thức ăn công nghiệp và phần lớn có trang bị hệ thống sục khí. Kết quả cho thấy diện tích đất cần cho sản xuất tôm sử dụng thức ăn công nghiệp là 0,43 ha/tấn, thấp hơn đáng kể so với mức 2,5 ha/tấn của mô hình nuôi quảng canh.
Dữ liệu trong Bảng 2 được thu thập từ các trang trại có năng suất dao động từ 4–8 tấn/ha/vụ (tính theo diện tích ao nuôi) đến trên 20 tấn/ha/vụ. Điều này cho thấy vẫn còn nhiều tiềm năng để gia tăng cường độ sản xuất tôm mà không cần mở rộng thêm diện tích đất trực tiếp phục vụ nuôi trồng.
Theo Claude E. Boyd, Robert P. Davis, Aaron McNevin
Nguồn: https://www.globalseafood.org/advocate/a-comparison-of-resource-use-in-shrimp-farming-part-1-land/
Biên dịch: Nguyễn Thị Quyên – Tôm Giống Gia Hoá Bình Minh
Đọc thêm:
- Phân Tích Hiệu Suất Sản Xuất Nuôi Tôm Litopenaeus vannamei Và Chất Lượng Nước Trong Ao Đất Và Ao Lót HDPE
- Vai Trò Then Chốt Của Dinh Dưỡng Và Thức Ăn Cho Cá: Những Tiến Bộ Gần Đây Và Triển Vọng Tương Lai Cho Ngành Nuôi Trồng Thủy Sản Brazil
- Chiến Lược Nuôi Tôm Thẻ Chân Trắng Cỡ Lớn (Litopenaeus Vannamei) Ở Các Vùng Bán Khô Hạn Của Ả Rập Xê Út
English
中文 (中国)
SẢN PHẨM PHỤC VỤ NỀN NÔNG NGHIỆP XANH
TIN TỨC NỔI BẬT
So Sánh Việc Sử Dụng Tài Nguyên Trong Nuôi Tôm, Phần 1: Đất Đai
Năng suất sản xuất tôm có thể được tăng lên đáng kể mà không cần [...]
Th9
Cải Tạo Ao Theo Quy Trình Cân Bằng Sinh Học
Cải tạo ao theo quy trình cân bằng sinh học là giải pháp tối ưu [...]
Th9
Nghiên Cứu Cho Thấy Động Vật Giáp Xác Biển Có Thể Tái Chế Chất Thải Nông Nghiệp Thành Thức Ăn Nuôi Trồng Thủy Sản
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng động vật giáp xác biển có [...]
Th9
Tôm Giống Phù Hợp Với Quy Trình Cân Bằng Sinh Học
Quy trình cân bằng sinh học là phương pháp nuôi theo hướng an toàn và [...]
Th9
Ảnh Hưởng Của Chất Lượng Nước Đến Sức Khỏe Và Năng Suất Của Cá Và Tôm, Phần 3: Các Hợp Chất Nitơ Amoni, Nitrit Và Nitrat
Việc giám sát và kiểm soát hiệu quả nồng độ amoniac, nitrit và nitrat đóng [...]
Th9
Lợi Ích Của Quy Trình Nuôi Tôm Cân Bằng Sinh Học
Nuôi tôm cân bằng sinh học đang trở thành xu hướng tất yếu trong ngành [...]
Th8
Quy Trình Nuôi Tôm Cân Bằng Sinh Học – BBA Bio Balance Aquaculture
Ngành nuôi tôm không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn [...]
Th8
Cân Bằng Sinh Học Trong Nuôi Tôm: Hướng Đi Mới Cho Ngành Thủy Sản Việt Nam
Ngành nuôi tôm không chỉ đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo an [...]
Th8
BBA – Bio-Balance Aquaculture – Quy Trình Cân Bằng Sinh Học Trong Nuôi Trồng Thủy Sản
BBA là từ viết tắt của Bio-Balance Aquaculture trong nuôi trồng thủy sản – đây [...]
Th8
Cân Bằng Sinh Học Trong Nuôi Tôm Là Gì?
Trong những năm gần đây, nuôi tôm công nghiệp ngày càng phát triển mạnh mẽ. [...]
Th8
Nuôi Tôm Bền Vững: Giải Pháp Cân Bằng Sinh Học Từ Bình Minh
Dịch bệnh hoành hành, kháng sinh mất dần hiệu quả, người nuôi tôm loay hoay [...]
Th8
Các Đồng Vị Nitơ Giúp Các Nhà Nghiên Cứu Xác Minh Nguồn Gốc Bột Cá Dùng Làm Thức Ăn Thủy Sản
Dấu hiệu đồng vị nitơ có thể xác minh việc sử dụng bột cá trong [...]
Th8