Năng suất sản xuất tôm có thể được tăng lên đáng kể mà không cần sử dụng thêm đất trực tiếp cho các trang trại nuôi tôm.

Trong phần đầu của loạt bài gồm ba phần này, Giáo sư Boyd trình bày về tình hình sử dụng đất trong nuôi tôm tại năm quốc gia xuất khẩu tôm nuôi chủ lực gồm Ecuador, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam. Ông cho rằng cường độ sản xuất tôm có thể được nâng cao đáng kể mà không cần mở rộng thêm diện tích đất dành cho các trang trại nuôi tôm. (Ảnh: Darryl Jory)
Trong phần đầu của loạt bài gồm ba phần này, Giáo sư Boyd trình bày về tình hình sử dụng đất trong nuôi tôm tại năm quốc gia xuất khẩu tôm nuôi chủ lực gồm Ecuador, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam. Ông cho rằng cường độ sản xuất tôm có thể được nâng cao đáng kể mà không cần mở rộng thêm diện tích đất dành cho các trang trại nuôi tôm. (Ảnh: Darryl Jory)

Sử dụng đất là một trong những yếu tố quan trọng trong công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Hai vấn đề được quan tâm song song là bảo vệ các môi trường sống tự nhiên và đảm bảo quỹ đất sản xuất đáp ứng nhu cầu hiện tại cũng như tương lai về lương thực và sợi.

Kể từ năm 1950, sản lượng lương thực toàn cầu đã tăng hơn ba lần, đồng thời dân số thế giới cũng tăng gấp ba. Nhờ đó, lượng lương thực bình quân đầu người hiện nay vẫn cao hơn một chút so với những năm 1950. Trong khi đó, diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp chỉ tăng khoảng 10% so với cùng thời điểm. Hiện nay, khoảng 38% diện tích đất liền trên thế giới được sử dụng cho sản xuất lương thực. Vì vậy, nếu nông nghiệp không tiếp tục được thâm canh hóa, quỹ đất hiện có sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu lương thực của con người và vật nuôi.

Sử dụng đất trong nuôi tôm

Dữ liệu về sử dụng đất trong nuôi tôm được trình bày trong nghiên cứu này được thu thập thông qua khảo sát các trang trại nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) tại năm quốc gia xuất khẩu tôm nuôi chủ lực. Số lượng trang trại tham gia khảo sát gồm 101 trang trại ở Ecuador, 89 trang trại ở Ấn Độ, 1.341 trang trại ở Indonesia, 34 trang trại ở Thái Lan và 30 trang trại ở Việt Nam. Các dữ liệu này đã được tổng hợp và trình bày chi tiết hơn trong một bài báo tổng quan (Aquaculture, Fish, and Fisheries, 2021, 1–13).

Hoạt động nuôi tôm đòi hỏi quỹ đất để xây dựng và vận hành hệ thống trang trại. Thông thường, tổng diện tích đất sử dụng lớn hơn từ 1,2 đến 2,2 lần so với diện tích mặt nước của ao nuôi. Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ diện tích đất trên diện tích mặt nước sản xuất (LWR) trung bình dao động từ 1,22 tại Ecuador đến 2,04 tại Thái Lan (Bảng 1). Tính chung cho năm quốc gia xuất khẩu tôm hàng đầu, giá trị LWR trung bình đạt 1,67.

Bảng 1. Tỷ lệ diện tích trang trại so với diện tích ao nuôi (LWR) và diện tích dành cho các loại cơ sở hạ tầng đất khác nhau tại các trang trại nuôi tôm ở năm quốc gia xuất khẩu chính.
Bảng 1. Tỷ lệ diện tích trang trại so với diện tích ao nuôi (LWR) và diện tích dành cho các loại cơ sở hạ tầng đất khác nhau tại các trang trại nuôi tôm ở năm quốc gia xuất khẩu chính.

Một chỉ số có ý nghĩa về việc sử dụng đất tại các trang trại là diện tích cần thiết cho mỗi tấn tôm sản xuất hàng năm. Diện tích đất nông nghiệp trực tiếp dành cho nuôi trồng tôm dao động từ 0,09 ha/tấn ở Indonesia đến 0,20 ha/tấn ở Ấn Độ (Bảng 2) với mức trung bình có trọng số là 0,15 ha/tấn.

Bảng 2. Sản lượng vụ mùa và sản lượng ao hàng năm, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và sử dụng đất cho sản xuất tôm tại năm quốc gia xuất khẩu tôm chính.
Bảng 2. Sản lượng vụ mùa và sản lượng ao hàng năm, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và sử dụng đất cho sản xuất tôm tại năm quốc gia xuất khẩu tôm chính.

Nuôi tôm bằng thức ăn chăn nuôi

Bảng 2 trình bày sản lượng tôm thẻ chân trắng được nuôi bằng thức ăn công nghiệp. Trong khi đó, một tỷ lệ nhỏ tôm thẻ chân trắng và phần lớn tôm sú được nuôi theo phương pháp quảng canh, không sử dụng hoặc chỉ sử dụng rất ít thức ăn bổ sung. Diện tích dành cho nuôi quảng canh khoảng 1,8 triệu ha, gần tương đương với 1,7 triệu ha của các trang trại nuôi thâm canh sử dụng thức ăn. Tuy nhiên, các trang trại nuôi quảng canh chỉ đóng góp 11,4% tổng sản lượng tôm nuôi toàn cầu vào năm 2018. Tổng sản lượng tôm nuôi trong năm này đạt khoảng 6 triệu tấn, với nhu cầu sử dụng đất trực tiếp của mô hình quảng canh khoảng 2,5 ha cho mỗi tấn sản phẩm.

Các trang trại nuôi tôm quy mô lớn chủ yếu được xây dựng trong vùng triều, trong khi các trang trại nuôi tôm sử dụng thức ăn thường được bố trí ở những khu vực nằm trên mực nước triều cao nhất. Phần lớn diện tích rừng ngập mặn và các vùng đất ngập nước bị chuyển đổi cho hoạt động nuôi tôm có liên quan đến các mô hình nuôi quy mô lớn. Vì vậy, việc phát triển thêm các trang trại nuôi tôm quy mô lớn trong vùng triều không nên được khuyến khích và các cơ quan quản lý không nên cho phép mở rộng loại hình này. Tuy nhiên, việc chấm dứt hoạt động của các trang trại quy mô lớn hiện có có thể dẫn đến những tác động đáng kể về mặt xã hội và kinh tế tại địa phương.

Nuôi tôm bằng thức ăn công nghiệp phụ thuộc vào các nguyên liệu có nguồn gốc thực vật được sản xuất trên đất nông nghiệp. Đối với bảy công thức thức ăn được khảo sát, diện tích đất cần thiết để sản xuất nguyên liệu thức ăn dao động từ 0,14 đến 0,34 ha/tấn thức ăn, với giá trị trung bình là 0,202 ha/tấn. Diện tích đất sử dụng cho nguyên liệu thức ăn trên mỗi tấn tôm chịu ảnh hưởng bởi cả lượng đất cần thiết để sản xuất một tấn thức ăn và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), được xác định theo công thức: diện tích đất/tấn thức ăn × FCR = diện tích đất sử dụng cho thức ăn/tấn tôm. Kết quả cho thấy diện tích đất sử dụng cho thức ăn ở năm quốc gia được nghiên cứu khá tương đồng, dao động từ 0,27 đến 0,30 ha/tấn tôm, với giá trị trung bình có trọng số của tất cả các quốc gia là 0,28 ha/tấn tôm.

So với diện tích đất sử dụng trực tiếp cho hoạt động nuôi, diện tích đất dành cho sản xuất thức ăn chăn nuôi lớn hơn đáng kể (Bảng 2). Đất phục vụ nuôi tôm thường phân bố tại các vùng ven biển, là những khu vực có giá trị sinh thái cao hơn so với đất nông nghiệp ở khu vực nội địa. Bên cạnh đó, mọi hình thức sản xuất thịt đều phụ thuộc ở mức độ lớn vào nguồn thức ăn chăn nuôi. Vì vậy, khi tiêu thụ một khẩu phần tôm, người tiêu dùng thường thay thế một phần các loại thịt khác, vốn cũng đòi hỏi diện tích đất để sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Diện tích đất trung bình cần để sản xuất một tấn thức ăn cho gà thịt là 0,21 ha, tương đương với diện tích cần thiết để sản xuất thức ăn cho tôm. Trong khi đó, thức ăn dành cho lợn và bò thịt đòi hỏi diện tích đất lớn hơn, với mức trung bình lần lượt là 0,307 ha/tấn và 0,247 ha/tấn. Điều này cho thấy nuôi tôm có thể không làm gia tăng tổng diện tích đất sử dụng cho sản xuất lương thực trên phạm vi toàn cầu, vì lượng thức ăn bổ sung cho nuôi tôm được bù đắp thông qua việc thay thế một phần sản lượng của các loại thịt khác.

Ngoài đất sử dụng để sản xuất nguyên liệu thức ăn, đất còn được sử dụng để sản xuất đường và mật rỉ, là các nguồn carbohydrate được bổ sung trong một số hệ thống nuôi tôm thâm canh. Diện tích đất cần thiết để sản xuất đường thô là 0,09 ha/tấn, trong khi mật rỉ chỉ cần 0,02 ha/tấn. So với nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, diện tích đất phục vụ sản xuất các nguồn carbohydrate bổ sung cho ao nuôi là tương đối nhỏ.

Tổng diện tích đất sử dụng để sản xuất một tấn tôm, bao gồm diện tích ao nuôi trực tiếp, diện tích dành cho sản xuất nguyên liệu thức ăn và diện tích phục vụ sản xuất các nguồn carbohydrate, dao động từ 0,37 ha/tấn tại Indonesia đến 0,50 ha/tấn tại Ấn Độ (Bảng 2). Giá trị trung bình có trọng số của năm quốc gia được khảo sát là 0,43 ha/tấn.

Giảm diện tích đất sử dụng trong nuôi tôm

Hai giải pháp chủ yếu nhằm giảm diện tích đất sử dụng trong sản xuất tôm là cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) và nâng cao cường độ nuôi trong ao. Bên cạnh đó, tỷ lệ diện tích đất trên diện tích ao nuôi (LWR) cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất. Tuy nhiên, tại một số quốc gia, giá trị LWR thấp chủ yếu xuất phát từ việc sử dụng hạn chế các hồ chứa và bể lắng. Vì vậy, cần khuyến khích tăng cường đầu tư vào các công trình này, đặc biệt tại Thái Lan. Diện tích đất dành cho từng loại công trình trong các trang trại được trình bày ở Bảng 1.

Các tính toán về nhu cầu sử dụng đất được thực hiện trên các trang trại áp dụng hình thức nuôi bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh, sử dụng thức ăn công nghiệp và phần lớn có trang bị hệ thống sục khí. Kết quả cho thấy diện tích đất cần cho sản xuất tôm sử dụng thức ăn công nghiệp là 0,43 ha/tấn, thấp hơn đáng kể so với mức 2,5 ha/tấn của mô hình nuôi quảng canh.

Dữ liệu trong Bảng 2 được thu thập từ các trang trại có năng suất dao động từ 4–8 tấn/ha/vụ (tính theo diện tích ao nuôi) đến trên 20 tấn/ha/vụ. Điều này cho thấy vẫn còn nhiều tiềm năng để gia tăng cường độ sản xuất tôm mà không cần mở rộng thêm diện tích đất trực tiếp phục vụ nuôi trồng.

Theo Claude E. Boyd, Robert P. Davis, Aaron McNevin

Nguồn: https://www.globalseafood.org/advocate/a-comparison-of-resource-use-in-shrimp-farming-part-1-land/

Biên dịch: Nguyễn Thị Quyên – Tôm Giống Gia Hoá Bình Minh

Đọc thêm:

SẢN PHẨM PHỤC VỤ NỀN NÔNG NGHIỆP XANH

TIN TỨC NỔI BẬT

You cannot copy content of this page