3. Kết quả

3.1. Tác dụng làm giảm sự hấp thụ kim loại nặng

Tất cả các kim loại được phân tích (sắt, kẽm, đồng, cadmi và chì) trong mang và gan của cá rô phi đều cho thấy nồng độ cao hơn đáng kể ở nhóm đối chứng. Đồng thời, sự giảm dần và đáng kể được phát hiện khi tăng mức độ bổ sung OPM (P  ≤  0,05) (Bảng 4).

bang 4 tac dong opm
Bảng 4. Tác động của OPM trong thức ăn cho cá rô phi đến việc giảm hấp thụ kim loại nặng.

Giá trị trung bình ± sai số chuẩn trong cùng một hàng có ký hiệu chú thích khác nhau cho thấy sự thay đổi đáng kể (P ≤ 0,05).

Nhóm đối chứng cho thấy nồng độ sắt cao nhất trong gan là 129,41 ± 1,16 mg/kg. Nồng độ này giảm dần khi tăng lượng OPM bổ sung, đạt 80,53 ± 1,72 mg/kg ở mức 10 g/kg. Nồng độ kẽm trong gan ở nhóm đối chứng là 85,39 ± 4,73 mg/kg. Mức này giảm đáng kể xuống còn 44,22 ± 1,41 mg/kg ở nồng độ OPM cao nhất. Nồng độ đồng trong gan giảm từ 61,17 ± 2,67 mg/kg ở nhóm đối chứng xuống còn 30,81 ± 0,93 mg/kg ở khẩu phần ăn 10 g/kg. Nồng độ cadmi trong gan là 2,51 ± 0,36 mg/kg ở nhóm đối chứng và giảm xuống còn 1,17 ± 0,04 mg/kg ở khẩu phần ăn 10 g/kg. Nồng độ chì trong gan giảm từ 12,60 ± 0,92 mg/kg ở nhóm đối chứng xuống còn 5,79 ± 0,54 mg/kg khi cho ăn khẩu phần 10 g/kg.

Hàm lượng sắt trong mang của nhóm đối chứng là 86,60 ± 2,98 mg/kg. Con số này giảm đáng kể xuống còn 52,12 ± 1,61 mg/kg ở mức 10 g/kg OPM. Các nguyên tố còn lại (kẽm, đồng, cadmium và chì) cũng có xu hướng tương tự, đạt mức cao nhất trong nhóm đối chứng và giảm dần khi lượng OPM tăng lên.

3.2. Ảnh hưởng đến các chỉ dấu sinh học của stress oxy hóa ở gan và mang

Tác động của OPM trong khẩu phần ăn lên các chỉ số sinh học về stress oxy hóa ở gan và mang cá rô phi được thể hiện trong Bảng 5. OPM trong khẩu phần ăn đã ảnh hưởng đáng kể (P ≤ 0,05) đến tất cả các thông số stress oxy hóa và chống oxy hóa được đo lường.

bang 5 chi so sinh hoc
Bảng 5. Tác động của việc bổ sung OPM vào khẩu phần ăn đối với các chỉ số sinh học chống oxy hóa ở gan và mang cá Oreochromis niloticus.

Giá trị trung bình ± sai số chuẩn trong cùng một hàng có ký hiệu chú thích khác nhau cho thấy sự thay đổi đáng kể (P ≤ 0,05).

Trong gan, giá trị MDA cao nhất ở nhóm đối chứng và giảm đáng kể khi tăng lượng bổ sung OPM, đạt nồng độ thấp nhất ở cá rô phi được cho ăn khẩu phần ăn giàu 10 g/kg OPM (P  ≤ 0,05). Ngược lại, các enzyme chống oxy hóa ở gan, như SOD và CAT, tăng đáng kể theo liều lượng khi bổ sung OPM. Giá trị SOD và CAT cao nhất được phát hiện ở nhóm bổ sung 10 g/kg OPM. Tương tự, mức MDA ở mang giảm đáng kể khi bổ sung OPM vào khẩu phần ăn so với nhóm đối chứng, với giá trị thấp nhất được phát hiện ở nhóm nhận 10 g OPM/kg trong khẩu phần ăn. Hoạt tính SOD và CAT ở mang tăng đáng kể khi bổ sung OPM theo liều lượng (P  ≤ 0,05).

3.3. Tác động lên các chỉ số miễn dịch huyết tương của cá rô phi

Tác động của tỷ lệ bổ sung OPM khác nhau trong khẩu phần ăn lên các chỉ số miễn dịch huyết tương của cá rô phi (O. niloticus) được thể hiện trong Bảng 6. Việc bổ sung OPM vào khẩu phần ăn đã ảnh hưởng đáng kể đến tất cả các chỉ số miễn dịch đo được (P  ≤ 0,05). Nồng độ immunoglobulin M (IgM) trong huyết thanh tăng lên đáng kể khi tăng lượng bổ sung OPM. Giá trị IgM cao nhất được quan sát thấy ở cá được cho ăn 10 g OPM/kg, khác biệt đáng kể so với nhóm đối chứng và nhóm có tỷ lệ bổ sung thấp hơn (P  ≤ 0,05). Tương tự, hoạt tính lysozyme cho thấy sự gia tăng đáng kể theo liều lượng, với hoạt tính cao nhất được ghi nhận ở cá được cho ăn khẩu phần giàu 10 g OPM/kg, tiếp theo là nhóm 5 và 2,5 g/kg, so với nhóm đối chứng (P  ≤ 0,05). Hoạt tính thực bào cũng được tăng cường đáng kể nhờ việc bổ sung OPM vào khẩu phần ăn. Cá rô phi được cho ăn khẩu phần ăn bổ sung OPM với liều lượng 5 và 10 g/kg có hoạt động thực bào cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng và nhóm 2,5 g/kg (P  ≤ 0,05). Tương tự, chỉ số thực bào được cải thiện đáng kể trong tất cả các nghiệm thức bổ sung OPM so với nhóm đối chứng, với giá trị cao nhất được ghi nhận ở cá được cho ăn 10 g/kg OPM (P  ≤ 0,05).

bang 6 tac dong opm
Bảng 6. Tác động của các mức độ OPM khác nhau trong khẩu phần ăn đến các chỉ số miễn dịch huyết tương của cá rô phi.

Giá trị trung bình ± sai số chuẩn trong cùng một hàng có ký hiệu chú thích khác nhau cho thấy sự thay đổi đáng kể (P ≤ 0,05).

3.4. Các thông số sinh hóa

Hình 1, Hình 2, Hình 3 cho thấy việc bổ sung OPM ảnh hưởng như thế nào đến các chỉ số sinh hóa máu của cá rô phi. Nhìn chung, việc bổ sung OPM đã cải thiện đáng kể các chỉ số sinh hóa về chuyển hóa, gan và thận so với nhóm đối chứng (P ≤ 0,05).

hinh 1 chi so sinh hoc
Hình 1. (A và B). Các chỉ số sinh học về chức năng gan của cá rô phi (O. niloticus) được cho ăn các bữa ăn bổ sung bột vỏ cam với nồng độ khác nhau, so với nhóm đối chứng. Các giá trị trung bình được ký hiệu bằng các chữ cái viết thường khác nhau có sự khác biệt đáng kể (P ≤ 0,05).
hinh 2 chi so sinh hoc
Hình 2. (A và B). Các chỉ số sinh học chức năng thận của cá rô phi (O. niloticus) được cho ăn các bữa ăn bổ sung bột vỏ cam với nồng độ khác nhau, so với nhóm đối chứng. Các giá trị trung bình được ký hiệu bằng các chữ cái viết thường khác nhau có sự khác biệt đáng kể (P ≤ 0,05).
hinh 3 duong huyet lipid
Hình 3. (A–C). Đường huyết và chỉ số lipid của cá rô phi (O. niloticus) được cho ăn các bữa ăn bổ sung bột vỏ cam với nồng độ khác nhau, so với nhóm đối chứng. Các giá trị trung bình được ký hiệu bằng các chữ cái viết thường khác nhau có sự khác biệt đáng kể (P ≤ 0,05).

Giá trị ALT và AST bị ảnh hưởng đáng kể bởi việc bổ sung OPM vào khẩu phần ăn (Hình 1  A, B). Nhóm đối chứng cho thấy hoạt động enzyme cao nhất. Ngược lại, cá được cho ăn khẩu phần giàu OPM cho thấy giá trị ALT và AST giảm đáng kể, trong đó giá trị thấp nhất được phát hiện ở cá được cho ăn khẩu phần 10 g OPM/kg.

Các thông số chức năng thận, bao gồm urê và creatinin, bị ảnh hưởng đáng kể bởi việc bổ sung OPM (Hình 2 A, B). Giá trị urê và creatinin cao nhất được ghi nhận ở nhóm đối chứng, trong khi đó, sự suy giảm đáng kể và dần dần được quan sát thấy khi tăng mức OPM. Cá được cho ăn khẩu phần ăn bổ sung 10 g OPM/kg thức ăn cho thấy giá trị urê và creatinin thấp nhất.

Theo mô hình phụ thuộc liều lượng, việc bổ sung OPM làm giảm đáng kể nồng độ triglyceride, cholesterol và glucose trong máu (Hình 3 A–C). Nồng độ glucose cao nhất ở nhóm đối chứng là 107,50 mg/dl, và thấp nhất ở nhóm cá được cho ăn 10 g/kg OPM, ở mức 80 mg/dl. Tương tự, nồng độ cholesterol và triglyceride tăng đáng kể ở nhóm đối chứng (lần lượt là 126,50 và 135 mg/dl) và giảm dần khi tăng lượng OPM bổ sung, đạt mức thấp nhất ở nhóm được cho ăn 10 g/kg OPM.

3.5. Hiệu quả tăng trưởng

Trọng lượng cuối cùng và tốc độ tăng trọng của cá rô phi được cải thiện đáng kể nhờ bổ sung OPM vào khẩu phần ăn (Bảng 7). Trọng lượng cuối cùng và tốc độ tăng trọng của nhóm đối chứng lần lượt là 96,43 ± 3,14 g/cá và 74,61 ± 2,59 g/cá. Cá rô phi được cho ăn khẩu phần bổ sung OPM với liều lượng 10 g/kg đạt trọng lượng cuối cùng cao nhất là 155,45 ± 2,17 g/cá và tốc độ tăng trọng cao nhất là 133,57 ± 1,54 g/cá. Cả tốc độ tăng trọng hàng ngày và tốc độ tăng trưởng cụ thể (SGR) đều bị ảnh hưởng đáng kể bởi việc bổ sung OPM (P < 0,05). Tốc độ tăng trọng hàng ngày của nhóm đối chứng là 0,75 ± 0,03 g/cá/ngày, và SGR là 1,49 ± 0,01%/ngày. Mức tăng trọng hàng ngày cao nhất (1,34 ± 0,02 g/cá/ngày) và tốc độ tăng trưởng cụ thể (SGR) cao nhất (1,96 ± 0,02%/ngày) được quan sát thấy ở nhóm được bổ sung 10 g OPM/kg vào khẩu phần ăn.

bang 7 tac dong opm
Bảng 7. Tác động của việc bổ sung OPM dinh dưỡng đến tốc độ tăng trưởng của cá rô phi.

Giá trị trung bình ± sai số chuẩn trong cùng một hàng có ký hiệu chú thích khác nhau cho thấy sự thay đổi đáng kể (P ≤ 0,05).

Khi bổ sung OPM, lượng thức ăn tiêu thụ tăng lên đáng kể (P ≤ 0,05). Nhóm đối chứng tiêu thụ 138,16 ± 6,58 g thức ăn/cá, trong khi nhóm bổ sung 10 g/kg OPM tiêu thụ nhiều nhất với 211,25 ± 1,25 g thức ăn/cá. Việc bổ sung OPM cũng cải thiện đáng kể tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR). Nhóm đối chứng có FCR là 1,85 ± 0,02, giảm dần khi nồng độ OPM tăng lên, đạt FCR tốt nhất là 1,58 ± 0,01 ở nồng độ 10 g/kg OPM. Không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ sống của cá rô phi giữa các nghiệm thức (P  > 0,05). Tỷ lệ sống dao động từ 92,50 ± 0,83% ở nhóm đối chứng đến 96,67 ± 1,67% ở nhóm bổ sung 10 g/kg OPM.

..Còn tiếp…

Theo Hala S. Khalil, Hamed H.E. Saleh, Asmaa M. El-Agri, Mohamed A. Elokaby, Nehal M.N. Elkhouly, Akram I.M. Alkobaby, Gad H.G. Hussein, Rasha K. Abdel-Wahed, Mohammed F. El Basuini, Mohamed F. Sadek

Nguồn: https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S004484862600390X

Biên dịch: Nguyễn Thị Quyên – Tôm Giống Gia Hoá Bình Minh

Xem thêm:

SẢN PHẨM PHỤC VỤ NỀN NÔNG NGHIỆP XANH

TIN TỨC NỔI BẬT

You cannot copy content of this page