Công ty Minnesota đề xuất hệ thống giám sát mầm bệnh trong nuôi trồng thủy sản liên tục tự động.

“Máy theo dõi” từ Hệ thống cảm biến hạt nhân sử dụng kỹ thuật số PCR dạng giọt để phát hiện các vấn đề sinh học trong môi trường nuôi trồng thủy sản, cải thiện năng suất. Hình ảnh từ Courtesy.
Nucleic Sensing Systems – NS2 cho biết họ có thể giúp các nhà sản xuất thủy sản kiểm tra, tìm kiếm dấu hiệu của bệnh và mầm bệnh trong các giọt nước siêu nhỏ (vi giọt). Sản phẩm “Tracker” của công ty có thể thực hiện tự động ngoài thực địa mà không cần có con người tham gia. Nhờ khả năng hữu ích này, Hệ thống cảm biến hạt nhân đã lọt vào vòng chung kết cho Giải thưởng Đổi mới Nuôi trồng Thủy sản Toàn cầu năm 2021 của Liên minh Thủy sản Toàn cầu.
Tracker là một công cụ phát hiện axit nucleic dòng liên tục, có thể thực hiện trực tiếp ngoài ao nuôi. Theo Giám đốc điều hành Edgar Rudberg, nó có thể theo dõi và cảnh báo sự hiện diện của vi khuẩn, vi rút, các loài xâm lấn, bọ ve, tảo độc hoặc bất kỳ sinh vật sống nào khác mà người quản lý nuôi trồng thủy sản quan tâm. Ông nói: “Về cơ bản nó là một thiết bị báo động khói sinh học”.
(Ghi chú của tác giả bài viết: NS2 và hai ứng viên khác lọt vào vòng chung kết Giải thưởng Đổi mới Nuôi trồng thủy sản toàn cầu khác sẽ trình bày tại vòng GOAL trực tuyến cuối cùng vào giữa tháng 11. Vui lòng đón xem về hồ sơ của hai ứng viên còn lại lọt vào vòng chung kết trong hai tuần tới)
Sau khi được cung cấp các thông tin trên, các nhà quản lý có thể bắt đầu các biện pháp giảm thiểu và sau đó xem tình hình thay đổi như thế nào để tối đa hóa năng suất.
Khái niệm công nghệ cơ bản được thực hiện một phần bởi Cody Youngbull, người đang nghiên cứu PCR vi giọt kỹ thuật số thủy sinh tại Đại học Montana và hiện là cố vấn cho NS2. Phản ứng chuỗi polymerase (PCR) sử dụng các chất sinh hóa để tạo ra nhiều bản sao của các đoạn DNA, với sự mở rộng của kỹ thuật giúp nó có thể thực hiện một quá trình khuếch đại tương tự cho RNA. Công nghệ PCR xác định các bệnh ở người, chẳng hạn như xét nghiệm ngoáy mũi được thực hiện để phát hiện COVID-19.
Trong máy Tracker của NS2, quy trình bắt đầu bằng việc máy lấy mẫu nước và sau đó chia nhỏ thành các giọt 5 microlit (nhỏ hơn 0,0002 ounce). Sau đó, RNA hoặc DNA bên trong các vi giọt này trải qua quá trình PCR, chỉ với những phân đoạn phù hợp với một trình tự cụ thể được khuếch đại và gắn thẻ bằng thuốc nhuộm huỳnh quang. Bởi vì trong hàng nghìn đến hàng triệu bản sao được tạo ra, chỉ cần một lượng rất nhỏ của một trình tự axit nucleic cụ thể có mặt trong một vi giọt.
Rudberg tuyên bố: “Chúng tôi có thể phát hiện những thứ nhỏ như một sợi DNA hoặc RNA”.
![]()
Hệ thống Tracker rất chắc chắn, lưu trữ vật tư tiêu hao sinh hóa hàng tháng và yêu cầu rất ít năng lượng do nó có thể chạy bằng pin quang điện (pin mặt trời). Hình ảnh từ Courtesy.
Ông nói thêm, tổng thời gian từ khi bắt đầu chạy mẫu và cho ra kết quả là chưa đầy một giờ. Ngược lại, theo phương pháp tiêu chuẩn thông thường, gồm lấy mẫu nước, mang đến phòng thí nghiệm, sau đó tiến hành phân tích, một quá trình có thể mất nhiều ngày. Nó cũng có thể bao gồm nhiều bước thủ công.
Bất kỳ hệ thống giám sát nào cũng có thể có trường hợp âm tính giả (khi thiết bị báo nhầm là không có vấn đề) và dương tính giả (trường hợp máy báo nhầm là có vấn đề). Theo Rudberg, máy Tracker giảm thiểu được cả hai loại kết quả đọc sai thông qua nhiều phương pháp khác nhau.
Rudberg nói, đầu tiên, hệ thống chỉ sử dụng các chất sinh hóa PCR đã biết và đã được kiểm tra một cách khoa học. Cách tiếp cận này đảm bảo rằng Tracker phát hiện những gì được quan tâm.
Hệ thống có bốn hệ thống lưu trữ khác nhau, mỗi hệ thống có thể có một bộ hóa sinh riêng. Vì vậy, nó có thể theo dõi các vấn đề sinh học khác nhau, chẳng hạn như hai loại bệnh khác nhau và ve cùng một lúc, đồng thời chạy một hệ thống kiểm soát để nâng cao độ chính xác hơn nữa.
Một biện pháp bảo vệ thứ cấp chống lại cảnh báo sai là việc chia nhỏ mẫu thành các vi giọt và theo dõi liên tục, có nghĩa là việc lấy và xử lý một mẫu mới có thể xảy ra sau mỗi vài phút. Do đó, nhiều thử nghiệm có thể được chạy trong thời gian ngắn, giảm tác động của sai sót trong bất kỳ phép đo đơn lẻ nào.
Rudberg nhấn mạnh: “Bạn càng nhận được nhiều mẫu, bạn càng ít có khả năng mắc lỗi”.
Hệ thống này rất chắc chắn, lưu trữ hàng tháng vật tư tiêu hao sinh hóa và yêu cầu ít điện năng đến mức nó có thể chạy bằng pin mặt trời, theo tài liệu của NS2. Tracker nặng khoảng 30 pound và có kích thước tương đương với hành lý xách tay, Rudberg cho biết thêm.
Kết quả có sẵn thông qua giao diện người dùng đồ họa dựa trên đám mây. Với khả năng này, các nhà sản xuất nuôi trồng thủy sản có thể theo dõi các địa điểm sản xuất khác nhau cùng một lúc.
Tracker đã được triển khai tại các trại giống liên bang và NS2 đã bán vài máy cho chính phủ Hoa Kỳ. Các thử nghiệm thực địa hiện đang được tiến hành tại các trại giống tư nhân. Sản phẩm hiện đang trong giai đoạn thử nghiệm và Rudberg dự đoán một sản phẩm thương mại hóa hoàn toàn, sẽ có sẵn để bán vào cuối năm 2022. Giá dự kiến là khoảng 75.000 đô la, với phí dịch vụ liên tục do kết nối đám mây.
Có thể có những ứng dụng khác của công nghệ. Các khả năng bao gồm các ứng dụng nông nghiệp và xử lý nước thải.
Nhưng mục tiêu đầu tiên là nuôi trồng thủy sản. Rudberg lưu ý rằng việc lọt vào vòng chung kết của Giải thưởng Sáng tạo là một sự công nhận đáng hoan nghênh về tiềm năng của công nghệ này.
“Chúng tôi cảm thấy rất vinh dự khi được tham gia vào chương trình này,” anh nói. “Rõ ràng là chúng tôi rất đam mê công việc mà chúng tôi đang làm. Thật thú vị khi những người khác cũng cảm thấy như vậy”.
Theo Hank Hogan
Biên dịch: Thùy Linh – Công ty TNHH PTTS Bình Minh
“Tôm Giống Gia Hóa – Chìa Khóa Thành Công”
Xem thêm:
- Hiệu Quả Của Chế Phẩm Sinh Học Thương Mại Ở Các Ao Nuôi Tôm Thẻ Chân Trắng Penaeus vannamei Miền Bắc Trung Quốc
- An Toàn Sinh Học Đối Với Trại Nuôi
- Úc Thiết Lập Chương Trình Lai Tạo Giống Để Thúc Đẩy Nuôi Tôm Bạc Thẻ Fenneropenaeus Merguiensis.
English
中文 (中国)
SẢN PHẨM PHỤC VỤ NỀN NÔNG NGHIỆP XANH
TIN TỨC NỔI BẬT
Sự Di Cư Của Các Kiểu Hệ Vi Sinh Đường Ruột Do Sự Ấm Lên Toàn Cầu Tác Động Đến Sức Khỏe Và Tình Trạng Bệnh Tật Của Tôm Litopenaeus vannamei
Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trong những [...]
Th7
Vai Trò Then Chốt Của Dinh Dưỡng Và Thức Ăn Cho Cá: Những Tiến Bộ Gần Đây Và Triển Vọng Tương Lai Cho Ngành Nuôi Trồng Thủy Sản Brazil
Trong bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu đang hướng tới các mô [...]
Th7
Phân Tích Hiệu Suất Sản Xuất Nuôi Tôm Litopenaeus vannamei Và Chất Lượng Nước Trong Ao Đất Và Ao Lót HDPE
Sự gia tăng liên tục của nhu cầu hải sản trên thế giới đặt ra [...]
Th7
Cá rô phi có ăn lẫn nhau không? – Nguyên nhân và cách khắc phục
Trong nghề nuôi cá nước ngọt, cá rô phi là đối tượng nuôi phổ biến [...]
Th7
Phòng ngừa bệnh đốm đen trên tôm thẻ chân trắng
Bệnh đốm đen trên tôm thẻ chân trắng hay còn gọi là bệnh đốm nâu, [...]
Th7
Lắng Nghe Đáy Ao: Làm Thế Nào Sinh Học Âm Thanh Có Thể Thay Đổi Cách Quản Lý Thức Ăn Cho Tôm
Nghiên cứu cho thấy việc giám sát bằng âm thanh khắc phục được hạn chế [...]
Th7
Cá Rô Phi Ăn Gì Qua Từng Giai Đoạn Để Đạt Năng Suất Cao?
Cá rô phi hiện nay là một trong những đối tượng nuôi thủy sản trọng [...]
Th7
Bệnh viêm ruột trên cá rô phi – Nguyên nhân và cách điều trị hiệu quả
Bệnh viêm ruột trên cá rô phi là một trong những thách thức lớn đối [...]
Th7
Kỹ thuật xử lý ao cá rô phi bị xanh hiệu quả
Trong nuôi trồng thủy sản, màu nước là chỉ số phản ánh sức khỏe của [...]
Th7
Bệnh Mờ Đục Hậu Ấu Trùng Ngoài Phạm Vi Trung Quốc: Từ Nhận Diện Dịch Bệnh Đến Sự Sẵn Sàng Trong Chẩn Đoán
Các nghiên cứu gần đây đang cung cấp cho các trại giống tôm những công [...]
Th7
Bệnh Đốm Trắng Trên Cua: Dấu Hiệu Nhận Biết Và Phòng Ngừa Hiệu Quả
Bệnh đốm trắng là một trong những bệnh nguy hiểm đối với ngành nuôi trồng [...]
Th7
Dư Lượng Vi Khuẩn Và Hóa Chất Ảnh Hưởng Đến Chất Lượng Cá Rô Phi
Asen và các kim loại khác tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho sức khỏe. [...]
Th7