Tóm tắt
Hiện nay, có rất nhiều chế phẩm sinh học (CPSH) trên thị trường được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản ở Trung Quốc và một số nhà nghiên cứu có tiếng đã báo cáo các kết quả khác nhau về tác dụng của CPSH trong ao nuôi trồng thủy sản. Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của CPSH thương mại lên chất lượng nước, mật độ vi khuẩn và sản lượng tôm trong các ao tôm thẻ Penaeus vannamei ở Hai-yan, Trung Quốc.
Sáu ao nuôi tôm thẻ chân trắng tại tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc với các diện tích bề mặt khác nhau từ 0.33-1.2 ha được lựa chọn để tiến hành thử nghiệm. Các ao này đều là ao xi măng và đã qua 03 chu kỳ nuôi. Trước khi bắt đầu thử nghiệm, tất cả các chất hữu cơ dưới đáy ao đều được loại bỏ hoàn toàn theo tiêu chuẩn thực hành nuôi, và sau đó được khử trùng bằng CaO trước khi thả giống. Cuối cùng sau 15 ngày phơi ao, bơm nước sông Qiantang đã được lọc qua hệ thống lọc cát vào tất cả các ao này.
Mật độ thả là 750,000 post/ ha cho tất cả các ao. Tôm được cho ăn bằng thức ăn viên thương mại (sản xuất tại Trung Quốc) hai lần một ngày trong tháng đầu tiên với tỷ lệ 6–10% trọng lượng cơ thể tôm và ba lần một ngày cho đến khi thu hoạch ở mức 4–5% cơ thể trọng lượng. Đặt quạt chạy 5–20 giờ mỗi ngày và bơm thêm nước bù vào thay cho khoản hao hụt do bay hơi.
Ba ao (Số 1-3) là các ao thử nghiệm có sử dụng CPSH và ba ao còn lại (Số 4-6) được xem là các ao đối chứng (Bảng 1). Tất cả các nghiệm thức đều lặp lại 03 lần, và các thử nghiệm là hoàn toàn ngẫu nhiên.
CPSH thương mại nội địa có dạng chất lỏng và được đóng gói vô trùng trong các ống nhựa kín khí. Tỷ lệ và tần suất sử dụng chế phẩm sinh học trong các ao thử nghiệm tuân theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Cứ 1 kg CPSH được pha loãng trong nước ao và sục khí trong vòng 2 giờ. Liều áp dụng đầu tiên là 10 mg/L mỗi ao được thực hiện một ngày trước khi thả tôm giống. Trong 12 tuần tiếp theo, 3 mg/L được áp dụng sau mỗi 16 ngày. Sau 12 tuần đầu tiên, liều lượng của ứng dụng là tăng lên 5 mg/L cho đến cuối chu kỳ nuôi.
Nhiệt độ, độ mặn, DO, pH, tổng kiềm, và độ trong được đo bằng Bộ Test DREL 2400 và đĩa Secchi. Mẫu nước là hỗn hợp được thu thập từ ở giữa và các cạnh bên của ao để phân tích các chỉ tiêu hóa, lý và sinh học. Mẫu nước được lấy sau mỗi 21 ngày nuôi, vào ban ngày, trong khoảng từ 10 giờ sáng đến 02 giờ chiều. Các mẫu nước được đựng trong các chai vô trùng và được chuyển đến PTN ngay lập tức. Các chỉ tiêu được đo bao gồm: nồng độ các hợp chất nito vô cơ (NH4-N, NO2-N, và NO3-N), Phốt pho hoạt hóa hòa tan (PO4-P), nhu cầu oxy hóa COD, và CO2 theo phương pháp Parsons và Wei.
Mẫu nước được pha loãng bằng nước muối sinh lý (0.9% NaCl) trước khi nuôi cấy. Ước tính tổng số đĩa (TPC) trên môi trường TSA, số lượng Vibrio giả định (PVC) trên môi trường TCBS, Bacillus sp. (BS) trên môi trường thạch bình thường thông qua số lượng bào tử nhuộm (NNA) và vi khuẩn ammoni hóa (AB) trên thạch vi khuẩn amoni hóa được thực hiện theo kỹ thuật quét đĩa. Hơn thế nữa, vi khuẩn khoáng hóa protein (PMB) được đã phân tích theo Rodina. Tất cả các hóa chất được sử dụng đều mua từ các công ty Sigma, Roche, Sangon, và Merck.
Sản lượng tôm cuối cùng, tăng trưởng, tỉ lệ sống và tỉ lệ chuyển hóa thức ăn FCR được ước tính sau 109 ngày nuôi. Phương pháp thống kê là phương pháp phân tích One-way ANOVA, cho thấy sự khác biệt đáng kể trên các chỉ số giữa các ao đối chứng và nghiệm thức (P<0,05).
CPSH thương mại có tổng mật độ tế bào khuẩn là 109 cfu / mL và tìm thấy vi khuẩn Bacillus sp. và vi khuẩn quang hợp chiếm ưu thế. Ngoài ra, chúng còn chứa nấm men, Saccharomyces cerevisiae, với 4,5 x 105 tế bào / mL, Nitrosomonas sp. và Nitrobacter sp. lần lượt là 6,4 x 104 tế bào / mL và 2,8 x 106 tế bào / mL.
Nhiệt độ của ao nuôi tôm thay đổi theo thời tiết và cường độ ánh sáng mặt trời. Nhiệt độ nước gần như giống nhau trong các ao vào các ngày lấy mẫu, và không có sự khác biệt giữa ao thử nghiệm và đối chứng. Nhiệt độ của ao dao động trong khoảng 22,2oC đến 34,8oC. Điều này tương tự với độ mặn, dao động trong khoảng 22 và 5, và không có khác biệt trong ao thử nghiệm và đối chứng.
Kết quả cho thấy rằng CPSH có thể cải thiện mật độ quần thể của hệ vi khuẩn có lợi, giảm hàm lượng N và P, và tăng sản lượng tôm. Số lượng trung bình của Bacillus sp., vi khuẩn amoni hóa và vi khuẩn khoáng hóa protein được phát hiện là cao hơn đáng kể trong ao thử nghiệm so với ao đối chứng (P <0,05). Trong các ao đối chứng, sự gia tăng lượng Vibrios giả định được quan sát và có mật độ trung bình lên đến 2,09 x 103 cfu / mL, trong khi đó chỉ là 4,37×102 cfu/mL trong ao đã xử lý (P <0,05). Việc sử dụng men vi sinh cũng làm tăng đáng kể lượng oxy hòa tan DO (P <0,05) và giảm Phốt pho hóa hóa hòa tan, tổng nitơ vô cơ và nhu cầu oxy hóa học COD (P <0,05). Ao thử nghiệm thu được trung bình 8215 ± 265 kg tôm / ha; với tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) là 1,13 ± 0,05 và tỷ lệ sống (SR) là 81,00 ± 6,25%. Các giá trị này cao hơn so với giá trị của các ao đối chứng (4985 ± 503 kg tôm / ha, FCR 1,35 ± 0,12 và SR 48,67 ± 3,51%). Chỉ số này cho thấy rằng việc bổ sung các chế phẩm sinh học thương mại có ảnh hưởng đáng chú ý đến chất lượng nước của ao nuôi tôm và sản lượng tôm.
Nhóm tác giả: Yan-Bo WANG, Zi-Rong Xu, và Mei-Sheng XIA
Viện Khoa học Thức ăn của ĐH Zhejiang, Trung Quốc.
Nguồn: https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/j.1444-2906.2005.01061.x
“Tôm giống gia hóa – Chìa Khóa thành công”
Xem thêm:
- Chế Phẩm Sinh Học, Bacillus subtilis Tăng Khả Năng Tăng Trưởng Và Tiêu Hóa Của Tôm Thẻ Chân Trắng, Litopenaeus vannamei
- Giảm Thiểu Rủi Ro Do Bệnh Vi Khuẩn Gây Ra Trong Ao Tôm
- Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Bốn Loại Tảo Biển Trong Khẩu Phần Ăn Của Tôm Thẻ Chân Trắng Thái Bình Dương
English
中文 (中国)

SẢN PHẨM PHỤC VỤ NỀN NÔNG NGHIỆP XANH
TIN TỨC NỔI BẬT
Vai Trò Then Chốt Của Dinh Dưỡng Và Thức Ăn Cho Cá: Những Tiến Bộ Gần Đây Và Triển Vọng Tương Lai Cho Ngành Nuôi Trồng Thủy Sản Brazil
Trong bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu đang hướng tới các mô [...]
Th7
Phân Tích Hiệu Suất Sản Xuất Nuôi Tôm Litopenaeus vannamei Và Chất Lượng Nước Trong Ao Đất Và Ao Lót HDPE
Sự gia tăng liên tục của nhu cầu hải sản trên thế giới đặt ra [...]
Th7
Cá rô phi có ăn lẫn nhau không? – Nguyên nhân và cách khắc phục
Trong nghề nuôi cá nước ngọt, cá rô phi là đối tượng nuôi phổ biến [...]
Th7
Phòng ngừa bệnh đốm đen trên tôm thẻ chân trắng
Bệnh đốm đen trên tôm thẻ chân trắng hay còn gọi là bệnh đốm nâu, [...]
Th7
Lắng Nghe Đáy Ao: Làm Thế Nào Sinh Học Âm Thanh Có Thể Thay Đổi Cách Quản Lý Thức Ăn Cho Tôm
Nghiên cứu cho thấy việc giám sát bằng âm thanh khắc phục được hạn chế [...]
Th7
Cá Rô Phi Ăn Gì Qua Từng Giai Đoạn Để Đạt Năng Suất Cao?
Cá rô phi hiện nay là một trong những đối tượng nuôi thủy sản trọng [...]
Th7
Bệnh viêm ruột trên cá rô phi – Nguyên nhân và cách điều trị hiệu quả
Bệnh viêm ruột trên cá rô phi là một trong những thách thức lớn đối [...]
Th7
Kỹ thuật xử lý ao cá rô phi bị xanh hiệu quả
Trong nuôi trồng thủy sản, màu nước là chỉ số phản ánh sức khỏe của [...]
Th7
Bệnh Mờ Đục Hậu Ấu Trùng Ngoài Phạm Vi Trung Quốc: Từ Nhận Diện Dịch Bệnh Đến Sự Sẵn Sàng Trong Chẩn Đoán
Các nghiên cứu gần đây đang cung cấp cho các trại giống tôm những công [...]
Th7
Bệnh Đốm Trắng Trên Cua: Dấu Hiệu Nhận Biết Và Phòng Ngừa Hiệu Quả
Bệnh đốm trắng là một trong những bệnh nguy hiểm đối với ngành nuôi trồng [...]
Th7
Dư Lượng Vi Khuẩn Và Hóa Chất Ảnh Hưởng Đến Chất Lượng Cá Rô Phi
Asen và các kim loại khác tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho sức khỏe. [...]
Th7
Nhiệt Độ Lý Tưởng Cho Tôm Sú Phát Triển
Nhiệt độ nước là một trong những yếu tố môi trường ảnh hưởng trực tiếp [...]
Th7