Vắc xin có hiệu quả chống lại các loài liên cầu khuẩn chính.

Khi cá rô phi ngày càng được ưa chuộng trong nuôi trồng thủy sản, thương mại quốc tế đối với loài cá này cũng phát triển mạnh mẽ. Cá rô phi có ưu điểm là dễ nuôi, thích nghi tốt với nhiều điều kiện môi trường khác nhau và có thể cho sản lượng ổn định quanh năm.
Tuy nhiên, cùng với sự mở rộng quy mô và mức độ thâm canh ngày càng cao, cá rô phi cũng trở nên dễ bị ảnh hưởng bởi nhiều bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn và virus gây ra, gây thiệt hại đáng kể cho người nuôi. Trong đó, đáng lo ngại nhất là bệnh nhiễm trùng huyết do liên cầu khuẩn có thể gây tỷ lệ chết cao ở cá rô phi nuôi.
Các loài Streptococcus quan trọng
Hai loài liên cầu khuẩn Streptococcus agalactiae và Streptococcus iniae được xem là những tác nhân chủ yếu gây bệnh liên cầu khuẩn trên cá rô phi. Khi nhiễm hai loại vi khuẩn này, cá thường biểu hiện các dấu hiệu lâm sàng khá giống nhau như: bơi lờ đờ, di chuyển bất thường, thân cong hình chữ C, lồi mắt một hoặc cả hai bên và giảm hoặc bỏ ăn.
Sự tương đồng về triệu chứng khiến việc chẩn đoán trực tiếp tại trại nuôi gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, để xác định chính xác tác nhân gây bệnh, cần tiến hành phân tích vi khuẩn bằng các phương pháp định danh kiểu hình truyền thống hoặc sử dụng kỹ thuật PCR với các mồi oligonucleotide đặc hiệu cho từng loài.
Tỷ lệ mắc bệnh
Để làm rõ vai trò của hai tác nhân gây bệnh này trong ngành nuôi cá rô phi, trong suốt chín năm qua, các tác giả đã phân lập và nhận diện hơn 1.000 chủng vi khuẩn từ cá rô phi nuôi tại 74 địa điểm thuộc 14 quốc gia. Tương tự nhiều nghiên cứu trước đó, kết quả cho thấy nhóm vi khuẩn Streptococcus chiếm hơn một nửa tổng số chủng được ghi nhận.
Đáng chú ý, dù S. iniae thường được xem là tác nhân gây bệnh liên cầu phổ biến nhất trên cá nói chung, dữ liệu thu thập lại cho thấy S. agalactiae xuất hiện với tần suất cao hơn trên cá rô phi. Nguyên nhân của sự khác biệt này vẫn chưa được xác định rõ. Tuy nhiên, một nghiên cứu mô bệnh học so sánh gần đây giữa cá rô phi nhiễm S. iniae và S. agalactiae đã chỉ ra những khác biệt nhất định trong cơ chế gây bệnh, qua đó gợi ý rằng cá rô phi có khả năng kiểm soát nhiễm S. iniae hiệu quả hơn so với nhiễm S. agalactiae.
S. agalactiae là loài liên cầu khuẩn duy nhất mang kháng nguyên nhóm B, vì vậy thường được gọi là liên cầu khuẩn nhóm B. Tác nhân này vốn được biết đến nhiều trong y học và chăn nuôi, khi gây nhiễm trùng huyết ở trẻ sơ sinh và viêm vú ở gia súc. Tuy nhiên, vai trò gây bệnh trên cá đã được ghi nhận từ khá sớm, cụ thể từ năm 1966, khi một chủng liên cầu khuẩn nhóm B không gây tan máu được xác định là nguyên nhân của hai đợt bùng phát dịch trên cá mương vàng.
Trong những năm gần đây, các nghiên cứu về bệnh do S. agalactiae trên cá rô phi ngày càng gia tăng. Vào năm 1994, Avi Eldar và cộng sự đã phát hiện một tác nhân liên cầu khuẩn mới trên cá rô phi, chưa thể phân loại bằng phương pháp huyết thanh học, và tạm thời đặt tên là S. difficile. Sau đó, tên loài được điều chỉnh thành S. difficilis. Tuy nhiên, các nghiên cứu tiếp theo đã chứng minh rằng đây thực chất chỉ là một biến thể không gây tan máu của liên cầu khuẩn nhóm B, với cấu trúc di truyền hoàn toàn trùng khớp với S. agalactiae.

Các kiểu sinh học
Phân tích chi tiết các chủng S. agalactiae được phân lập cho thấy sự tồn tại của hai nhóm sinh học riêng biệt, khác nhau rõ rệt về đặc điểm sinh hóa và kiểu hình. Nhóm sinh học 1 thường biểu hiện khả năng tan máu beta, có thể lên men nhiều loại đường như trehalose và galactose, đồng thời sinh trưởng tốt ở 37°C. Trái lại, các chủng thuộc nhóm sinh học 2 không có khả năng tan máu, hạn chế trong việc sử dụng nguồn đường và phát triển yếu, thậm chí gần như không phát triển ở 37°C. Đáng chú ý, các đặc điểm kiểu hình của nhóm sinh học 2 tương đồng với những mô tả trước đây về S. difficilis.
Theo ghi nhận thực nghiệm, hai nhóm sinh học này gây ra những biểu hiện bệnh lý có sự khác biệt nhất định. Nhóm sinh học 1 có xu hướng gây nhiễm trên cá trong suốt chu kỳ nuôi, từ giai đoạn cá giống đến khi trưởng thành, trong khi nhóm sinh học 2 chủ yếu gây bệnh trên cá ở giai đoạn phát triển lớn hơn.
Phân tích cho thấy các kiểu sinh học của S. agalactiae phân bố rộng rãi ở nhiều khu vực địa lý khác nhau. Dựa trên các mẫu thu thập toàn cầu, kiểu sinh học 2 được ghi nhận là phổ biến nhất, đồng thời có phạm vi phân bố đa dạng nhất trong số các tác nhân gây bệnh liên cầu khuẩn. Kiểu này xuất hiện tại nhiều quốc gia châu Á như Trung Quốc, Indonesia, Việt Nam, Philippines và lan sang cả khu vực châu Mỹ Latinh, bao gồm Ecuador, Honduras, Mexico và Brazil.
Trái lại, kiểu sinh học 1 của S. agalactiae chủ yếu được xác định là tác nhân gây bệnh liên cầu khuẩn trên cá rô phi tại Thái Lan, Malaysia và Singapore. Trong khi đó, S. iniae thường được phát hiện đồng thời với S. agalactiae kiểu 1 hoặc 2 ở các quốc gia như Trung Quốc, Ecuador, Honduras, Indonesia, Philippines và Thái Lan. Đáng chú ý, chỉ tại Philippines và Việt Nam mới ghi nhận sự hiện diện đồng thời của cả ba tác nhân: S. agalactiae kiểu 1, kiểu 2 và S. iniae trong cùng một quốc gia.
Hiện vẫn chưa có lời giải thích rõ ràng về các yếu tố địa lý, sinh lý hay môi trường chi phối sự phân bố đặc thù của hai kiểu S. agalactiae này theo từng quốc gia. Vì vậy, không loại trừ khả năng mô hình phân bố hiện tại sẽ thay đổi theo thời gian, có thể chịu tác động từ hoạt động thương mại và vận chuyển cá sống giữa các khu vực.
Vắc-xin
Vắc-xin phòng bệnh nhiễm S. agalactiae trên cá rô phi đã được nhiều nghiên cứu đề cập. Tuy nhiên, từ các kết quả hiện có, vẫn chưa thể xác định rõ liệu chủng dùng làm vắc-xin và chủng gây bệnh có cùng hay khác kiểu sinh học.
Nhằm làm rõ việc phân loại S. agalactiae gây bệnh trên cá có ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển vắc-xin phòng bệnh liên cầu khuẩn hay không, các tác giả đã tiến hành thí nghiệm trong phòng, đánh giá khả năng bảo vệ của vắc-xin đặc hiệu theo từng kiểu sinh học trước sự tấn công gây chết của các chủng S. agalactiae thuộc kiểu sinh học 1 và 2.
Trong thí nghiệm, cá rô phi được tiêm vắc-xin và nhóm đối chứng không tiêm được gây nhiễm bệnh sau 3 tuần. Cá được theo dõi trong 15 ngày sau khi gây nhiễm, tỷ lệ chết được ghi nhận hàng ngày. Đồng thời, việc phân lập vi khuẩn gây bệnh được thực hiện trên các cá thể chết trong suốt quá trình theo dõi và trên toàn bộ cá sống sót khi kết thúc thí nghiệm.
Kết quả thể hiện (Hình 1–4) cho thấy: cá rô phi được tiêm vắc-xin S. agalactiae kiểu sinh học 1 có khả năng chống lại sự tấn công của chủng cùng kiểu có độc lực cao. Ngược lại, vắc-xin này không mang lại hiệu quả bảo vệ đối với sự tấn công của chủng kiểu sinh học 2 có độc lực cao.


Tương tự, cá sau khi được tiêm vắc xin S. agalactiae kiểu hình 2 chỉ được bảo vệ hiệu quả trước sự tấn công gây chết của chính kiểu hình này (Hình 3), nhưng không có khả năng chống lại chủng kiểu hình 1 có độc lực cao (Hình 4). Điều này cho thấy vắc xin vi khuẩn đặc hiệu theo kiểu hình chỉ mang lại khả năng bảo hộ tương ứng, giúp giảm tỷ lệ chết do S. agalactiae trong phạm vi cùng kiểu hình.


Đối với các trang trại nuôi cá rô phi đang đối mặt với bệnh do liên cầu khuẩn và có ý định sử dụng vắc-xin như một giải pháp kiểm soát, điều then chốt là cần xác định chính xác loài hoặc kiểu sinh học của vi khuẩn gây bệnh. Việc này giúp lựa chọn được loại vắc-xin phù hợp và đạt hiệu quả phòng bệnh tối ưu.
Theo Brian Sheehan, L. Labrie, Y.S. Lee, FS Wong, J. Chan, C. Komar, N. Wendover, L. Grisez
Nguồn: https://www.globalseafood.org/advocate/streptococcosis-in-tilapia/
Biên dịch: Nguyễn Thị Quyên – Tôm Giống Gia Hoá Bình Minh
Xem thêm:
- Ảnh Hưởng Của Stress Trước Khi Giết Mổ Đến Chất Lượng Phi Lê Cá Rô Phi
- Đánh Giá TILV Và Tác Động Tiềm Tàng Của Nó Đối Với Sản Lượng Cá Rô Phi
- Nuôi Ghép Tôm Thẻ Chân Trắng, Cá Đù Đỏ Và Cá Rô Phi Trong Hệ Thống Biofloc: Sử Dụng Cá Rô Phi Làm Vật Tiêu Thụ Tổng Chất Rắn Lơ Lửng

SẢN PHẨM PHỤC VỤ NỀN NÔNG NGHIỆP XANH
TIN TỨC NỔI BẬT
Rong Đuôi Chồn: Nguyên Nhân Và Cách Xử Lý
Rong đuôi chồn thường bị nhầm với rong đá do chúng có hình dạng khá [...]
Th4
Bứt Phá Thu Nhập Cùng Vị Trí Nhân Viên Kinh Doanh – Tuyển Dụng Nhân Viên Kinh Doanh
Bạn muốn có thu nhập cao nhưng chưa có kinh nghiệm? Đây chính là cơ [...]
Th4
Vi Khuẩn Có Lợi Và Kiểm Soát Mầm Bệnh
Men vi sinh ức chế cơ chế cảm ứng tập thể của vi khuẩn. Các [...]
Th4
Tổng Nitơ Hữu Cơ Hòa Tan (TAN) Và Các Yếu Tố Chất Lượng Nước Khác Ảnh Hưởng Đến Tốc Độ Nitrat Hóa Trong Bộ Lọc Sinh Học
Tổng lượng nitơ amoni, nhiệt độ và độ mặn của nước, cacbon hữu cơ là [...]
Th4
Xử Lý Rong Đá Trong Ao Quảng Canh
Rong đá thường xuất hiện trong môi trường phú dưỡng. Ban đầu rong phát triển [...]
Th4
Tuyển dụng Kỹ thuật nuôi tôm | Kỹ thuật viên nuôi trồng thủy sản tại Cần Thơ
Tuyển dụng vị trí: Kỹ Thuật Nuôi Tôm Nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng [...]
Th4
Cấy Vi Sinh Vật Vào Bộ Lọc Sinh Học Trong Hệ Thống Nuôi Trồng Thủy Sản Tuần Hoàn
Sự tích tụ các hợp chất độc hại gây nguy hiểm cho sức khỏe động [...]
Th4
Tích Hợp Sản Xuất Thức Ăn Chăn Nuôi Vào Hoạt Động Sản Xuất Cá Hoặc Tôm
Nghiên cứu khả thi bao gồm kế hoạch kinh doanh và phân tích kinh tế [...]
Th4
Ứng Tuyển Ngay Việc Làm Cơ Điện tại Cần Thơ
Tuyển dụng nhân viên cơ điện tại Cần Thơ. Thu nhập ổn định, môi trường [...]
Th4
Xử Lý Rong Mền Trong Ao Nuôi Tôm
Rong mền xuất hiện trong ao nuôi là dấu hiệu cảnh báo môi trường đang [...]
Th4
Phát Triển Vắc-Xin Vi Khuẩn Sống Bằng Cách Chọn Lọc Khả Năng Kháng Kháng Sinh
Việc lạm dụng kháng sinh ngày càng gia tăng đã thúc đẩy nhu cầu tìm [...]
Th4
Ký Sinh Trùng Làm Tăng Khả Năng Nhiễm Flavobacterium columnare Ở Cá Rô Phi
Niêm mạc và biểu bì là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại các vi [...]
Th4