Bệnh Columnaris gây phiền toái cho việc nuôi cá nước ngọt.

Trichodina là một dạng ký sinh trùng đơn bào có lông mao, thường ký sinh trên da và mang của cá. Đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất là cá bột và cá giống. Loài này gây hại bằng cách tiêu thụ lớp biểu bì bao phủ bề mặt da và mang, khiến cá bị kích ứng. Khi nhiễm ở mức độ cao, Trichodina có thể gây tổn thương nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến chết. Sự hiện diện với mật độ lớn còn làm da cá bị trầy xước, hình thành vết thương và loét, từ đó tạo điều kiện cho vi khuẩn cơ hội xâm nhập và gây bệnh thứ phát.
Flavobacterium columnare là vi khuẩn Gram âm dạng hình que, tác nhân gây bệnh columnaris. Đây là bệnh phổ biến với tỷ lệ chết cao trên nhiều loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế trên thế giới, trong đó có cá rô phi. Bệnh có thể xuất hiện ở mọi giai đoạn phát triển, từ cá bột đến cá trưởng thành. Columnaris thường biểu hiện như một bệnh ngoài da, với các dấu hiệu đặc trưng gồm tổn thương da, mòn vây và hoại tử mang.
Nhiễm bệnh đồng thời
Ký sinh trùng và vi khuẩn là hai nhóm sinh vật phổ biến trong môi trường nước tại các trại nuôi cá. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối tương tác giữa chúng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh, đặc biệt khi xảy ra nhiễm đồng thời, khiến các bệnh do vi khuẩn trở nên nghiêm trọng hơn.
Một báo cáo trước đây ghi nhận rằng cá rô phi tại một hệ thống nuôi tuần hoàn bị nhiễm Trichodina với mật độ cao đã xuất hiện tổn thương trên da. Đây chính là điều kiện thuận lợi dẫn đến các bệnh nhiễm khuẩn thứ phát như liên cầu khuẩn và edwarsiellosis, đồng thời khiến việc điều trị bằng kháng sinh không đạt hiệu quả. Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp kiểm soát ký sinh trùng bằng formalin, tỷ lệ hao hụt tổng thể đã được cải thiện đáng kể.
Chuẩn bị nghiên cứu
Dựa trên nền tảng đó, nhóm nghiên cứu đã triển khai thí nghiệm nhằm xác định liệu việc xử lý cá rô phi nhiễm ký sinh trùng Trichodina bằng formalin có giúp giảm mức độ nhiễm Flavobacterium columnare, từ đó cải thiện tỷ lệ sống của cá hay không.
Cá rô phi lai đã được chuyển giới tính, có chiều dài khoảng 10 cm, được nuôi trong ba bể kín dung tích 340 lít tại Đơn vị Nghiên cứu Sức khỏe Động vật Thủy sinh, trực thuộc Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ tại Auburn, bang Alabama. Kết quả kiểm tra cho thấy cá bị nhiễm Trichodina trên cả da và mang, với cường độ nhiễm dao động từ 4–8 cá thể ký sinh trùng trong mỗi lần quan sát dưới kính hiển vi ở độ phóng đại 100 lần.
Vi khuẩn Flavobacterium columnare được phân lập từ một cá da trơn mắc bệnh tại Alabama. Chủng vi khuẩn này được nuôi cấy trong môi trường lỏng và ủ trong điều kiện hiếu khí ở 28°C. Sau 24 giờ, mật độ vi khuẩn được xác định thông qua phương pháp đếm khuẩn lạc trên đĩa thạch.
Điều trị ký sinh trùng
Tổng cộng 390 cá rô phi lai được phân thành ba nhóm thí nghiệm. Nhóm thứ nhất không xử lý ký sinh trùng. Nhóm thứ hai được tắm trong dung dịch formalin nồng độ 150 mg/L trong 1 giờ. Nhóm thứ ba cũng được tắm formalin ở nồng độ 150 mg/L trong 1 giờ, lặp lại trong hai ngày liên tiếp. Sau xử lý, cá được nuôi hồi phục trong vòng 5 ngày.
Từ mỗi nhóm, tiến hành lấy mẫu 10 cá thể để định lượng mức độ ký sinh trùng, đồng thời kiểm tra sự hiện diện của F. columnare bằng phương pháp PCR thời gian thực (qPCR). Sau đó, cá được phân bổ vào 18 bể (mỗi bể 20 con) để thực hiện thí nghiệm gây nhiễm với F. columnare.
Cảm nhiễm F. columnare
Mỗi nhóm cá sau khi được xử lý bằng formalin được phân bổ vào ba bể riêng biệt. Trong mỗi nhóm, một nửa số cá được gây nhiễm vi khuẩn bằng cách ngâm trong xô nước chứa F. columnare ở nồng độ 3,2 × 10⁷ CFU/mL trong 15 phút. Nửa còn lại không tiếp xúc với vi khuẩn mà được giữ trong nước có bổ sung cùng lượng môi trường Shieh trong khoảng thời gian tương tự.

Hai cá thể được chọn ngẫu nhiên từ mỗi bể tại thời điểm 1 và 3 ngày sau khi gây nhiễm F. columnare. Mức độ nhiễm Trichodina được xác định bằng cách quan sát mẫu mô da và mang dưới kính hiển vi.
Tiếp theo, khoảng 20 mg mô mang, gan và thận được thu từ hai cá thể, sau đó nghiền đồng nhất trong ống ly tâm siêu nhỏ để phục vụ định lượng F. columnare. DNA được tách chiết và tinh sạch theo quy trình chuẩn, và phương pháp qPCR được áp dụng nhằm xác định hàm lượng F. columnare trong cá nhiễm bệnh.
Kết quả
Trước khi tiến hành thí nghiệm với F. columnare, sau 5 ngày xử lý ký sinh trùng, không ghi nhận sự hiện diện của Trichodina trên da và mang ở nhóm cá được xử lý formalin hai lần (Bảng 1). Việc xử lý formalin một lần cũng giúp giảm rõ rệt tỷ lệ nhiễm và mức độ ký sinh so với nhóm cá không được xử lý. Trong khi đó, toàn bộ cá ở nhóm đối chứng đều nhiễm Trichodina với mật độ từ 4–6 ký sinh trùng trên mỗi vùng quan sát.
Bảng 1.
| Số lần xử lý | Số lượng cá | Tỷ lệ nhiễm bệnh (%) | Cường độ nhiễm trùng |
| Trước khi cảm nhiễm đối với F. columnare | |||
| 0 | 30 | 100 | 6.4 |
| 1 | 30 | 20 | 0,3 |
| 2 | 30 | 0 | 0 |
| Một ngày sau cảm nhiễm F. columnare | |||
| 0 | 18 | 100 | 3.7 |
| 1 | 18 | 22 | 0,2 |
| 2 | 18 | 0 | 0 |
Sau khi tiếp xúc với F. columnare, cá rô phi bị ký sinh Trichodina nhưng không được điều trị ghi nhận tỷ lệ chết 37,5%. Ngược lại, nhóm được xử lý bằng formalin có tỷ lệ chết giảm xuống còn 16,7% hoặc thấp hơn (Bảng 2). Đáng chú ý, cá được điều trị hai lần chỉ có tỷ lệ chết 6,4%. Trong khi đó, không ghi nhận trường hợp chết nào ở nhóm cá chỉ bị ký sinh nhưng không bị gây nhiễm F. columnare.
Bảng 2.
| Số lần xử lý | Cảm nhiễm F. columnare | Số lượng cá | Số cá chết | Tỷ lệ chết (%) |
| 0 | Có | 48 | 18 | 37,5 |
| 1 | Có | 48 | 8 | 16.7 |
| 2 | Có | 48 | 3 | 6.3 |
| 0 | Không | 48 | 0 | 0 |
| 1 | Không | 48 | 0 | 0 |
| 2 | Không | 48 | 0 | 0 |
Sau 24 giờ kể từ khi tiếp xúc với F. columnare, những con cá bị nhiễm ký sinh trùng nhưng không được điều trị ghi nhận mật độ vi khuẩn trong mang cao vượt trội so với nhóm được xử lý bằng formalin (Bảng 3). Cụ thể, hàm lượng vi khuẩn đạt 27.075 bản sao bộ gen (GC)/mg ở nhóm không điều trị, cao gấp 12 lần so với nhóm xử lý formalin một lần (2.250 GC/mg) và cao gấp 39 lần so với nhóm xử lý hai lần (699 GC/mg).
| Mô | Nghiệm thức | GC/mg |
| Mang | 0 | 27.075 |
| 1 | 2.250 | |
| 2 | 699 | |
| Quả thận | 0 | 207 |
| 1 | 88 | |
| 2 | 0 | |
| Gan | 0 | 266 |
| 1 | 127 | |
| 2 | 0 |
Những con cá nhiễm ký sinh trùng nhưng không được điều trị ghi nhận mật độ vi khuẩn trong mô thận và gan cao hơn rõ rệt so với nhóm được xử lý bằng formalin, lần lượt đạt 207 và 266 GC/mg.
Ở nhóm cá được xử lý formalin một lần, mật độ vi khuẩn giảm xuống còn 88 GC/mg trong mô thận và 127 GC/mg trong mô gan. Đáng chú ý, không phát hiện sự hiện diện của F. columnare trong thận và gan ở những cá thể được xử lý formalin hai lần.
Kết luận
Ký sinh trùng Trichodina lây lan chủ yếu qua sự tiếp xúc trực tiếp giữa cá với cá hoặc thông qua nguồn nước bị ô nhiễm. Do đó, việc cải thiện chất lượng nước được xem là giải pháp hiệu quả nhằm hạn chế sự nhiễm ký sinh trùng trong hệ thống nuôi. Khi phát hiện cá trong ao bị nhiễm, cần cân nhắc áp dụng biện pháp điều trị nếu loại ký sinh trùng đó có thể kiểm soát được và chi phí điều trị phù hợp. Việc phát hiện sớm và xử lý kịp thời không chỉ giúp ngăn ngừa tình trạng nhiễm nặng mà còn hạn chế sự lây lan sang các ao hoặc bể nuôi khác.
Sự xâm nhiễm của ký sinh trùng có thể làm tổn thương lớp bảo vệ tự nhiên ở da và mang cá, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn gây bệnh xâm nhập. Thực tế cho thấy, việc sử dụng formalin để xử lý cá nhiễm Trichodina giúp giảm nguy cơ vi khuẩn tấn công và cải thiện đáng kể tỷ lệ sống của cá.
Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh rằng công tác phòng ngừa và điều trị ký sinh trùng đóng vai trò thiết yếu trong quản lý sức khỏe cá nuôi. Không chỉ giúp giảm thiểu thiệt hại trực tiếp do ký sinh trùng gây ra, các biện pháp này còn góp phần hạn chế tỷ lệ chết do các bệnh nhiễm khuẩn thứ phát.
Theo De-Hai Xu, Craig Shoemaker, Dunhua Zhang
Nguồn: https://www.globalseafood.org/advocate/parasite-treatment-reduces-f-columnare-infection-in-tilapia/
Biên dịch: Nguyễn Thị Quyên – Tôm Giống Gia Hoá Bình Minh
Xem thêm:
- Ảnh Hưởng Của Stress Trước Khi Giết Mổ Đến Chất Lượng Phi Lê Cá Rô Phi
- Đánh Giá TILV Và Tác Động Tiềm Tàng Của Nó Đối Với Sản Lượng Cá Rô Phi
- Nuôi Ghép Tôm Thẻ Chân Trắng, Cá Đù Đỏ Và Cá Rô Phi Trong Hệ Thống Biofloc: Sử Dụng Cá Rô Phi Làm Vật Tiêu Thụ Tổng Chất Rắn Lơ Lửng

SẢN PHẨM PHỤC VỤ NỀN NÔNG NGHIỆP XANH
TIN TỨC NỔI BẬT
Bổ Sung Khoáng Mùa Nắng Cho Tôm Quảng Canh: Tôm Khỏe, Lớn Nhanh, Hạn Chế Mềm Vỏ
Mùa nắng nóng luôn là giai đoạn thử thách lớn đối với mô hình nuôi [...]
Th5
Các Quy Trình An Toàn Sinh Học Cần Thiết Cho Thức Ăn Và Phương Pháp Cho Ăn Tôm
Chiến lược phát triển trong tương lai cần bao gồm các biện pháp an toàn [...]
Th5
Kỹ Thuật Nuôi Cá Rô Phi Toàn Đực Bình Minh Đạt Năng Suất Cao
Cá rô phi toàn đực Bình Minh hiện đang được nhiều hộ nuôi lựa chọn [...]
Th5
Cua Giống Sinh Học Bình Minh: Giải Pháp Tăng Thu Nhập Bền Vững Cho Người Nuôi Cua
Để khởi đầu cho một vụ nuôi đạt hiệu quả cao, việc lựa chọn con [...]
Th5
Tôm Không Chạy Lú Khi Thu Hoạch: Nguyên Nhân Và Cách Xử Lý Hiệu Quả
Tôm không chạy lú là tình trạng rất phổ biến trong quá trình thu hoạch [...]
Th5
Vô Trùng Là Yếu Tố Then Chốt Để Ngăn Ngừa Ô Nhiễm Trong Các Trại Giống Tôm
Việc lấy mẫu hàng ngày ở tất cả các giai đoạn phát triển có thể [...]
Th5
Quy Trình Sản Xuất Cua Giống Sinh Học Bình Minh
Cua Giống Sinh Học Bình Minh là sản phẩm được hơn nhiều nông hộ thả [...]
Th5
Biến Dị Di Truyền Về Khả Năng Kháng WSS, AHPND Ở Tôm Thẻ Chân Trắng
Các thử nghiệm đánh giá mối quan hệ phức tạp giữa vật chủ và tác [...]
Th5
Kỹ Thuật Cải Tạo Ao Nuôi Tôm Rừng Đạt Năng Suất Cao
Cải tạo ao nuôi tôm rừng đúng kỹ thuật là yếu tố tiên quyết, mở [...]
Th5
Bốn Chủng AHPND Được Xác Định Tại Các Trang Trại Nuôi Tôm Ở Mỹ Latinh
Thông báo cập nhật từ EMS: Báo cáo đầu tiên về các chủng Vibrio campbellii gây bệnh. [...]
Th5
Việt Nam kỳ vọng đột phá với cá rô phi trong danh mục xuất khẩu thủy sản
Cá rô phi đang nổi lên như một ngôi sao mới trong ngành xuất khẩu [...]
Th5
Xử Lý Phèn Sắt Trong Ao Tôm
Phèn sắt trong ao tôm là nguyên nhân khiến nước chuyển màu đỏ, tôm nổi [...]
Th5