3. Kết quả

3.1. Estradiol và hormone vitellogenin

Việc bổ sung bột E. bulbosa đã mang lại những tác động đáng kể (P < 0,05) đến nồng độ estradiol-17β và vitellogenin trong huyết tương của cá rô phi bố mẹ (Hình 1). Nồng độ estradiol-17β cao hơn đáng kể (P < 0,05) ở nhóm điều trị TA, trong khi nồng độ vitellogenin tăng cao đáng kể (P < 0,05) ở nghiệm thức TB.

Hình 1. Nồng độ estradiol-17β (A) và vitellogenin (B) trong huyết tương của cá rô phi bố mẹ được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau : 6,25 g/kg thức ăn (TA), 12,5 g/kg thức ăn (TB), 25 g/kg thức ăn (TC) và nhóm đối chứng không bổ sung E. bulbosa (TD). Dữ liệu được trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. Các chữ cái viết trên đầu các cột biểu thị sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm điều trị (P  < 0,05).
Hình 1. Nồng độ estradiol-17β (A) và vitellogenin (B) trong huyết tương của cá rô phi bố mẹ được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau : 6,25 g/kg thức ăn (TA), 12,5 g/kg thức ăn (TB), 25 g/kg thức ăn (TC) và nhóm đối chứng không bổ sung E. bulbosa (TD). Dữ liệu được trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. Các chữ cái viết trên đầu các cột biểu thị sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm điều trị (P < 0,05).

3.2. Hồ sơ chất chống oxy hóa, chỉ số sinh dục (GSI), khả năng sinh sản và phân tích mô học

Việc bổ sung bột E. bulbosa có tác động đáng kể (P  < 0,05) đến các thông số chống oxy hóa trong gan của cá rô phi bố mẹ. Việc bổ sung này cũng ảnh hưởng đáng kể (P  < 0,05) đến nồng độ MDA trong gan, hoạt tính enzyme GPx và giá trị GSI (Bảng 2). Nghiệm thức TA cho thấy hoạt tính SOD cao nhất, cao hơn đáng kể (P  < 0,05) so với tất cả nghiệm thức khác. Ngược lại, hoạt tính GPx cao nhất được quan sát thấy ở nghiệm thức TB, cao hơn đáng kể (P < 0,05) so với tất cả các liều lượng khác, bao gồm cả nhóm đối chứng. Liều lượng bột E. bulbosa trong khẩu phần ăn có tác động đáng kể (P < 0,05) đến chỉ số sinh dục (GSI) và khả năng sinh sản, trong khi không có tác động đáng kể (P > 0,05) nào được quan sát thấy đối với chỉ số gan (HSI) so với nhóm đối chứng. Giá trị GSI cao nhất được ghi nhận ở nghiệm thức TA. Hình 2 trình bày các đặc điểm mô học của gan và tuyến sinh dục của cá bố mẹ được cho ăn các liều lượng E. bulbosa khác nhau.

Bảng 2. Các thông số chống oxy hóa ở gan, chỉ số gan-thể trọng (HSI), khả năng sinh sản và chỉ số sinh dục-thể trọng (GSI) của cá rô phi bố mẹ được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn.
Bảng 2. Các thông số chống oxy hóa ở gan, chỉ số gan-thể trọng (HSI), khả năng sinh sản và chỉ số sinh dục-thể trọng (GSI) của cá rô phi bố mẹ được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn.

Các chữ cái viết trên khác nhau sau giá trị trung bình (± độ lệch chuẩn) trên cùng một dòng biểu thị sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P  < 0,05). SOD: superoxide dismutase, MDA: malondialdehyde, GPx: glutathione peroxidase, HSI: chỉ số gan-thể trọng, GSI: chỉ số sinh dục-thể trọng. Bột E. bulbosa được sử dụng với liều lượng 6,25 g/kg (TA), 12,5 g/kg (TB), 25 g/kg (TC); nhóm đối chứng (TD).

Hình 2. Mô gan và mô sinh dục của cá rô phi bố mẹ được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn: 6,25 g/kg thức ăn (TA), 12,5 g/kg thức ăn (TB), 25 g/kg thức ăn (TC) và nhóm đối chứng không bổ sung E. bulbosa (TD).
Hình 2. Mô gan và mô sinh dục của cá rô phi bố mẹ được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn: 6,25 g/kg thức ăn (TA), 12,5 g/kg thức ăn (TB), 25 g/kg thức ăn (TC) và nhóm đối chứng không bổ sung E. bulbosa (TD).

Ảnh hưởng của việc bổ sung bột E. bulbosa đến đặc điểm mô học gan và tuyến sinh dục được trình bày lần lượt trong Hình 3 và Hình 4A–B. Kết quả phân tích mô học gan cho thấy tỷ lệ tế bào gan (hp) và tỷ lệ không bào có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức bổ sung E. bulbosa và nhóm đối chứng (P < 0,05) (Hình 3B). Trong đó, nghiệm thức TA có tỷ lệ không bào thấp hơn và số lượng tế bào gan cao hơn có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). Tuy nhiên, số lượng tế bào gan ở nghiệm thức TA không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức TB (P > 0,05). Đối với mô học tuyến sinh dục, nghiệm thức TA ghi nhận điểm số noãn bào trưởng thành cao nhất, tiếp theo là nghiệm thức TB. Trong khi đó, hai nghiệm thức TC và TD có điểm số thấp nhất (Hình 4B).

Hình 3. Mô học gan của cá rô phi  được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn . (A) Hình ảnh đại diện các lát cắt gan nhuộm hematoxylin và eosin (H&E) cho thấy tế bào gan (hp), tĩnh mạch trung tâm (cv) và không bào (v). Thanh tỷ lệ = 50 μm; độ phóng đại gốc, 40×. (B) Phân tích mô học định lượng. Dữ liệu được trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. Các chữ cái khác nhau trong cùng một màu cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức (P  < 0,05).
Hình 3. Mô học gan của cá rô phi được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn . (A) Hình ảnh đại diện các lát cắt gan nhuộm hematoxylin và eosin (H&E) cho thấy tế bào gan (hp), tĩnh mạch trung tâm (cv) và không bào (v). Thanh tỷ lệ = 50 μm; độ phóng đại gốc, 40×. (B) Phân tích mô học định lượng. Dữ liệu được trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. Các chữ cái khác nhau trong cùng một màu cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức (P < 0,05).
Hình 4. Mô học tuyến sinh dục của cá rô phi  được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn. (A) Các lát cắt tuyến sinh dục nhuộm Hematoxylin và eosin (H&E) cho thấy các tế bào trứng đang trong giai đoạn tạo noãn hoàng (vt), các nang đang phát triển (f), các tế bào trứng trưởng thành (r), nhân (n) và tế bào sinh trứng (og). Thanh tỷ lệ = 200 μm; độ phóng đại = 10 ×. (B) Chấm điểm bán định lượng các loại tế bào trứng và nang trứng.
Hình 4. Mô học tuyến sinh dục của cá rô phi được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn. (A) Các lát cắt tuyến sinh dục nhuộm Hematoxylin và eosin (H&E) cho thấy các tế bào trứng đang trong giai đoạn tạo noãn hoàng (vt), các nang đang phát triển (f), các tế bào trứng trưởng thành (r), nhân (n) và tế bào sinh trứng (og). Thanh tỷ lệ = 200 μm; độ phóng đại = 10 ×. (B) Chấm điểm bán định lượng các loại tế bào trứng và nang trứng.

3.3. Huyết học và sinh hóa máu của cá rô phi bố mẹ

Việc bổ sung bột E. bulbosa không làm thay đổi đáng kể số lượng hồng cầu (RBC) (P > 0,05), nhưng ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến số lượng bạch cầu (WBC) (P < 0,05; Bảng 3). Nồng độ hemoglobin (Hb) ở nghiệm thức TC cao hơn đáng kể so với tất cả các nghiệm thức còn lại, bao gồm cả nhóm đối chứng TD (P < 0,05).

Bên cạnh đó, việc bổ sung bột E. bulbosa ảnh hưởng đáng kể đến một số chỉ tiêu sinh hóa máu, bao gồm protein tổng số, triglyceride và cholesterol; các chỉ tiêu này đều khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng (P < 0,05). Nồng độ glucose thấp nhất được ghi nhận ở nghiệm thức TA, thấp hơn đáng kể so với nghiệm thức TC và nhóm đối chứng TD (P < 0,05). Đối với các enzyme aminotransferase, nồng độ AST và ALT ở nghiệm thức TC không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng TD (P > 0,05). Tuy nhiên, cả hai nghiệm thức này đều có nồng độ AST và ALT cao hơn đáng kể so với các nghiệm thức TA và TB.

Bảng 3. Huyết học và sinh hóa máu của đàn cá rô phi bố mẹ được bổ sung các liều lượng khác nhau bột E. bulbosa trong khẩu phần ăn.
Bảng 3. Huyết học và sinh hóa máu của đàn cá rô phi bố mẹ được bổ sung các liều lượng khác nhau bột E. bulbosa trong khẩu phần ăn.

Các chữ cái viết trên khác nhau sau giá trị trung bình (± độ lệch chuẩn) trên cùng một dòng biểu thị sự khác biệt đáng kể (P  < 0,05). Bột E. bulbosa được sử dụng với liều lượng 6,25 g/kg (TA), 12,5 g/kg (Tb), 25 g/kg (TC); nhóm đối chứng (TD).

3.4. Hiệu suất tăng trưởng của đàn cá rô phi bố mẹ

Việc bổ sung bột E. bulbosa vào khẩu phần ăn giúp cải thiện đáng kể các chỉ tiêu tăng trưởng của cá, thể hiện qua trọng lượng cơ thể cuối cùng (FBW), tăng trọng trung bình hằng ngày (ADG), tăng trọng (WG) và tốc độ tăng trọng (WGR) cao hơn, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn thông qua tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) thấp hơn so với nhóm đối chứng (P < 0,05; Bảng 4). Trong đó, cá được cho ăn khẩu phần bổ sung 6,25 g/kg (TA) và 12,5 g/kg (TB) có tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn đáng kể so với cả nhóm đối chứng và nghiệm thức TC (P < 0,05). Mặc dù mức bổ sung 25 g/kg làm giảm hiệu suất tăng trưởng và gia tăng FCR so với các nghiệm thức bổ sung còn lại, các chỉ tiêu này vẫn tốt hơn đáng kể so với nhóm đối chứng (P < 0,05). Tỷ lệ sống (SR) ở nghiệm thức TA cũng cao hơn đáng kể so với tất cả các nghiệm thức khác và nhóm đối chứng (P < 0,05). Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trọng (WGR), tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR), tỷ lệ sống (SR) và mức bổ sung bột E. bulbosa được đánh giá bằng mô hình hồi quy bậc hai (Hình 5). Kết quả phân tích xác định mức bổ sung tối ưu ước tính là 13,8 g/kg đối với WGR, 13,6 g/kg đối với FCR và 10,2 g/kg đối với SR, với hệ số xác định (R²) lần lượt đạt 98,99%, 95,38% và 69,97%. Những kết quả này cho thấy khoảng bổ sung bột E. bulbosa tối ưu theo các chỉ tiêu được khảo sát nằm trong khoảng 10,2–13,8 g/kg thức ăn.

Bảng 4. Hiệu suất tăng trưởng và các chỉ số máu của cá rô phi bố mẹ được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn.
Bảng 4. Hiệu suất tăng trưởng và các chỉ số máu của cá rô phi bố mẹ được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn.

Các chữ cái viết trên khác nhau sau giá trị trung bình (± độ lệch chuẩn) trên cùng một dòng biểu thị sự khác biệt đáng kể (P  < 0,05). Bột E. bulbosa được sử dụng với liều lượng 6,25 g/kg (TA), 12,5 g/kg (Tb), 25 g/kg (TC); nhóm đối chứng (TD).

Hình 5. Phân tích hồi quy đa thức minh họa mối quan hệ giữa các liều lượng khác nhau của bột E. bulbosa và tốc độ tăng trọng (WGR), tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) và tỷ lệ sống (SR).
Hình 5. Phân tích hồi quy đa thức minh họa mối quan hệ giữa các liều lượng khác nhau của bột E. bulbosa và tốc độ tăng trọng (WGR), tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) và tỷ lệ sống (SR).

3.5. Sự đa dạng của hệ vi sinh vật đường ruột

Việc bổ sung bột E. bulbosa đã làm thay đổi thành phần hệ vi sinh vật đường ruột của cá rô phi bố mẹ ở cả cấp độ ngành (Hình 6A) và cấp độ chi (Hình 6B và C). Nhìn chung, hệ vi sinh vật đường ruột ở tất cả các nghiệm thức chủ yếu bao gồm năm ngành: Actinomycetota, Fusobacteriota, Planctomycetota, Pseudomonadota và Bacillota. Tuy nhiên, tỷ lệ phân bố tương đối của các ngành này có sự khác biệt rõ rệt giữa các nghiệm thức. Ở nghiệm thức TA, Actinomycetota chiếm tỷ lệ cao nhất trong cộng đồng vi sinh vật, cho thấy sự thay đổi nổi bật khi bổ sung bột E. bulbosa ở liều thấp. Bên cạnh đó, độ phong phú tương đối của Planctomycetota và Pseudomonadota cũng khác biệt rõ rệt giữa các nghiệm thức bổ sung và nhóm đối chứng (TD), trong đó cả hai ngành đều chiếm tỷ lệ cao hơn ở các nhóm được bổ sung E. bulbosa.

Ở cấp độ chi, Cetobacterium, Mycobacterium và Romboutsia là những chi chiếm ưu thế trong tất cả các nghiệm thức, với mức độ phong phú tương đối có xu hướng gia tăng ở các nhóm được bổ sung bột E. bulbosa. Các chỉ số đánh giá độ phong phú của hệ vi sinh vật, bao gồm ACE và Chao1 (Hình 6D), đạt giá trị cao nhất ở nghiệm thức TA, tiếp theo là TB và TC, trong khi nhóm đối chứng có giá trị thấp nhất. Ngược lại, các chỉ số đa dạng Shannon và Simpson cho thấy nghiệm thức TC, với mức bổ sung cao nhất, có độ đa dạng vi sinh vật lớn nhất trong số các nghiệm thức. Kết quả này được củng cố bởi phân tích biểu đồ Venn, cho thấy tổng số đơn vị phân loại vận hành (OTU) ở các nghiệm thức bổ sung E. bulbosa cao hơn so với nhóm đối chứng (Hình 6E). Trong số các nghiệm thức bổ sung, TA có số lượng OTU cao nhất, cho thấy mức bổ sung thấp có hiệu quả nổi bật trong việc gia tăng độ phong phú của hệ vi sinh vật đường ruột.

Phân tích tọa độ chính (PCoA) tiếp tục cho thấy sự khác biệt rõ rệt về cấu trúc cộng đồng vi sinh vật giữa các nghiệm thức, trong đó hai trục PCoA1 và PCoA2 lần lượt giải thích 48,02% và 34,61% tổng mức biến thiên (Hình 6F). Sự phân tách của các điểm mẫu giữa các nghiệm thức cho thấy việc bổ sung bột E. bulbosa có liên quan đến những thay đổi rõ rệt trong cấu trúc cộng đồng vi sinh vật đường ruột của cá rô phi bố mẹ.

Hình 6. Sự đa dạng hệ vi sinh vật đường ruột của cá rô phi bố mẹ được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn: 6,25 g/kg thức ăn (TA); 12,5 g/kg thức ăn (TB); 25 g/kg thức ăn (TC); và nhóm đối chứng không bổ sung E. bulbosa (TD), bao gồm độ phong phú tương đối ở cấp ngành (A), độ phong phú tương đối ở cấp chi (B–C), chỉ số độ giàu vi sinh vật (D), biểu đồ Venn về các OTU chung và riêng biệt (E), và Phân tích Tọa độ Chính (PCoA) (F).
Hình 6. Sự đa dạng hệ vi sinh vật đường ruột của cá rô phi bố mẹ được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn: 6,25 g/kg thức ăn (TA); 12,5 g/kg thức ăn (TB); 25 g/kg thức ăn (TC); và nhóm đối chứng không bổ sung E. bulbosa (TD), bao gồm độ phong phú tương đối ở cấp ngành (A), độ phong phú tương đối ở cấp chi (B–C), chỉ số độ giàu vi sinh vật (D), biểu đồ Venn về các OTU chung và riêng biệt (E), và Phân tích Tọa độ Chính (PCoA) (F).

3.6. Sức đề kháng của ấu trùng đối với các tác động từ môi trường và nhiễm trùng hydrophila

Kết quả thử nghiệm thách thức trong điều kiện stress môi trường (Hình 7A) và sau khi gây nhiễm A. hydrophila (Hình 7B) cho thấy việc bổ sung bột E. bulbosa giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống của ấu trùng so với nhóm đối chứng (TD) (P < 0,05). Tuy nhiên, tỷ lệ sống không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức bổ sung ở những mức liều lượng khác nhau (P > 0,05). Bên cạnh đó, việc bổ sung E. bulbosa làm giảm đáng kể sự phát triển của A. hydrophila ở ấu trùng cá rô phi so với nhóm đối chứng (TD) (P < 0,05). Không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về khả năng ức chế vi khuẩn giữa các nghiệm thức bổ sung (P > 0,05; Hình 7C).

Hình 7. Tỷ lệ sống của ấu trùng cá rô phi  được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn: 6,25 g/kg thức ăn (TA), 12,5 g/kg thức ăn (TB), 25 g/kg thức ăn (TC) và nhóm đối chứng không bổ sung E. bulbosa (TD). Tỷ lệ sống dưới tác động của stress môi trường (A); Khả năng kháng nhiễm trùng A. hydrophila (B), được đo trước (H0) và bảy ngày sau thử nghiệm (H7); (C) Tổng lượng vi khuẩn trong ấu trùng cá rô phi  ba ngày sau thử nghiệm. Dữ liệu được trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. Các chữ cái viết trên đầu các cột biểu thị sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức (P  < 0,05).
Hình 7. Tỷ lệ sống của ấu trùng cá rô phi được bổ sung các liều lượng bột E. bulbosa khác nhau trong khẩu phần ăn: 6,25 g/kg thức ăn (TA), 12,5 g/kg thức ăn (TB), 25 g/kg thức ăn (TC) và nhóm đối chứng không bổ sung E. bulbosa (TD). Tỷ lệ sống dưới tác động của stress môi trường (A); Khả năng kháng nhiễm trùng A. hydrophila (B), được đo trước (H0) và bảy ngày sau thử nghiệm (H7); (C) Tổng lượng vi khuẩn trong ấu trùng cá rô phi ba ngày sau thử nghiệm. Dữ liệu được trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn. Các chữ cái viết trên đầu các cột biểu thị sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức (P < 0,05).

…Còn tiếp…

Theo Waode Munaeni, Nursanti Abdullah, Muhammad Gustilatov

Nguồn: https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S2468550X26000936

Biên dịch: Nguyễn Thị Quyên – Tôm Giống Gia Hoá Bình Minh

Xem thêm:

SẢN PHẨM PHỤC VỤ NỀN NÔNG NGHIỆP XANH

TIN TỨC NỔI BẬT

You cannot copy content of this page