Tôm được cho ăn với khẩu phần ăn có chứa FeedKind, một loại protein vi sinh mới do Calysta sản xuất, đã được chứng minh là có khả năng chống lại vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus – nguồn gốc của hội chứng tôm chết sớm (EMS).
Con tôm bên phải đã bị nhiễm AHPND / EMS
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ở Thái Lan tin rằng việc đưa FeedKind vào khẩu phần ăn của tôm có thể giúp bảo vệ tôm thẻ chân trắng (Litopeneaus vannamei) chống lại bệnh. Trong các thử nghiệm, có tới 100% bột cá trong khẩu phần ăn của tôm được thay thế bằng bột protein Methylococcus capsulatus.EMS, còn được gọi là bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND), là một trong những thách thức lớn mà ngành nuôi tôm trên toàn cầu đang phải đối mặt. Hiện nay, có rất ít phương pháp điều trị hiệu quả cho căn bệnh này, ngoài thuốc kháng sinh – vốn không được người tiêu dùng ưa chuộng và không thể sử dụng trong thời gian dài.
Các thử nghiệm cũng chứng minh rằng loại protein mới này không ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ sống cũng như sự tăng trưởng của tôm được nuôi trong điều kiện thử nghiệm.
Phương pháp
Thử nghiệm bao gồm bốn nghiệm thức và mỗi nghiệm thức được lặp lại 5 lần:
- T1 là chế độ cho ăn đối chứng chứa 15% bột cá
- T2 chứa 5% bột vi khuẩn methanotroph
- T3 chứa 10% bột vi khuẩn methanotroph.
- T4 chứa 15% bột vi khuẩn methanotroph.
Tôm được cho ăn với ad libitum trong sáu tuần trong chế độ ăn thử nghiệm để đánh giá sự tăng trưởng. Sau đó là nghiệm thức tắm cảm nhiễm một lần với Vibrio parahaemolyticus – tác nhân gây bệnh EMS / AHPND – và được giữ thêm 15 ngày để đánh giá khả năng sống sót và sức đề kháng của tôm.
Kết quả
Các nhà nghiên cứu đã ghi nhận rằng không có sự khác biệt đáng kể về hiệu suất tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng được cho ăn với chế độ ăn có chứa bột vi khuẩn methanotroph hoặc chế độ ăn đối chứng trong sáu tuần (p> 0,05). Thêm vào đó, họ cũng cho biết không có sự khác biệt đáng kể nào về tỷ lệ sống, trọng lượng cuối cùng, tăng trọng, trọng lượng trung bình hàng ngày, tốc độ tăng trưởng cụ thể, khả năng tiêu thụ thức ăn hoặc hệ số chuyển đổi thức ăn khi kết thúc nghiên cứu.
Trong thí nghiệm cảm nhiễm với vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus, chế độ ăn có chứa bột vi khuẩn methanotroph đã thúc đẩy đáng kể tỷ lệ sống và giảm số lượng Vibrio sp. trong gan tụy của tôm thẻ chân trắng. Các dấu hiệu miễn dịch như số lượng bạch cầu, phenoloxidase, superoxide dismutase và hoạt động của lysozyme ở tất cả các nhóm là tương tự nhau sau khi kết thúc thử nghiệm cho ăn kéo dài sáu tuần.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng: “Các phát hiện cho thấy rằng bột vi khuẩn methanotroph có thể thay thế hoàn toàn bột cá trong khẩu phần ăn của tôm thẻ chân trắng. Chế độ ăn chứa 15% bột vi khuẩn methanotroph trong khẩu phần ăn của tôm cho thấy không có bất kì tác động xấu nào đến hiệu suất tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ sống cũng như nâng cao tỷ lệ sống khi thách thức với AHPND.”
Kết quả của các thử nghiệm có ý nghĩa vì hai lý do chính:
Đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã đề xuất rằng FeedKind là sự thay thế khả thi cho 100% bột cá trong khẩu phần ăn của tôm. Bột cá là một nguồn tài nguyên hữu hạn đang bị khai thác quá mức bởi ngành thức ăn thủy sản và việc sử dụng 3/4 nguồn cung cấp bột cá trên thế giới là một trong những chỉ trích lớn nhất đối với ngành nuôi trồng thủy sản trên toàn cầu – đặc biệt là ngành cá hồi và tôm. Vì vậy, việc thay thế bằng một giải pháp thay thế bền vững sẽ rất được hoan nghênh và chào đón.
FeedKind cũng có ưu điểm hơn so với các nguồn protein khác như đậu nành. Các tác giả của bài báo đã nhận xét: “Lợi ích bổ sung cho việc sản xuất bột vi khuẩn methanotroph là nó chiếm ít hơn 0,01% diện tích đất và chỉ sử dụng khoảng 10% nước xanh so với việc sản xuất protein đậu nành, nâng cao các thông tin về tính bền vững của nó.”
Yếu tố quan trọng thứ hai là tiềm năng của FeedKind, nó giúp bảo vệ tôm chống lại AHPND / EMS. Bệnh này là một trong những mối quan tâm lớn của ngành sản xuất tôm, do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây ra, với các đợt bùng phát thường xuyên xảy ra ở các trang trại nuôi tôm ở Đông Nam Á. Chúng gây hơn 70% tỷ lệ chết và thiệt hại hàng năm trên toàn cầu ước tính lên đến 1 tỷ USD.
Theo quan sát của các tác giả: “Trước đây, thuốc kháng sinh thường được sử dụng để điều trị EMS và các bệnh khác do Vibrio gây ra, nhưng chúng đã bị cấm sử dụng ở nhiều quốc gia (theo Liu và cộng sự, năm 2017). Để tăng cường sức khỏe tôm, nhiều nông dân đã sử dụng các chất phụ gia vào chế độ ăn của tôm để cải thiện sức khỏe của chúng, nhưng việc làm này có hiệu quả hạn chế và không chắc chắn (theo FAO, năm 2019). Mặt khác, bột vi khuẩn methanotroph được đưa vào thức ăn trong quá trình sản xuất thức ăn chăn nuôi tại nhà máy, cung cấp một phương pháp hiệu quả hơn cho việc tạo ra chất kích thích miễn dịch”.
Với các kết quả đầy hứa hẹn, các tác giả cho rằng cần có các nghiên cứu bổ sung để xác nhận kết quả của nghiên cứu hiện tại trong điều kiện thực tế.
Theo Rob Fletcher
Biên dịch: Huyền Thoại – Công ty TNHH PTTS Bình Minh
“Tôm Giống Gia Hóa – Chìa Khóa Thành Công”
Xem thêm:
- Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Huyết Tương Sấy Khô Trong Chế Độ Ăn Của Tôm Thẻ Chân Trắng Thái Bình Dương
- Biện Pháp Quản Lý Tôm Chết Sớm (EMS) Toàn Diện
- Định Nghĩa – Ứng Dụng Của Prebiotics Và Probiotics
English
中文 (中国)
SẢN PHẨM PHỤC VỤ NỀN NÔNG NGHIỆP XANH
TIN TỨC NỔI BẬT
Phần 2: Tận Dụng Đồng Thời Phế Thải Tôm Và Gỗ Nhiệt Đới Để Tạo Ra Vật Liệu Composite Giá Trị Cao: Nghiên Cứu Chế Tạo, Đặc Tính Và Khả Năng Hấp Phụ Thuốc Diệt Cỏ
4. Kết quả và thảo luận 4.1. Kết cấu của GH-SW-ACs Bảng 1 trình bày [...]
Th2
Phần 1: Tận Dụng Đồng Thời Phế Thải Tôm Và Gỗ Nhiệt Đới Để Tạo Ra Vật Liệu Composite Giá Trị Cao: Nghiên Cứu Chế Tạo, Đặc Tính Và Khả Năng Hấp Phụ Thuốc Diệt Cỏ
Tóm tắt Nghiên cứu này làm nổi bật tiềm năng khai thác các dòng chất [...]
Th2
Sử Dụng Mô Hình Gen Để Đánh Giá Năng Suất Thịt Của Tôm Thẻ Chân Trắng
Các mô hình gen đa đặc điểm cho thấy năng suất thịt có tính di [...]
Th2
Ảnh Hưởng Của Cường Độ Sục Khí, Chất Lượng Nước, Chu Trình Dinh Dưỡng Và Cấu Trúc Cộng Đồng Vi Sinh Vật Trong Hệ Thống Biofloc Đến Tôm Thẻ Chân Trắng
Cường độ sục khí thấp hơn tạo ra các hạt floc lớn hơn, đơn giản [...]
Th2
Xử Lý Váng Bọt Khó Tan Trong Ao Tôm
Váng bọt khó tan xuất hiện trong ao tôm là một trong những dấu hiệu [...]
Th2
Bột Vẹm Nâu Trong Thức Ăn Có Thể Thúc Đẩy Tăng Trưởng Và Khả Năng Chống Chịu Lạnh Của Tôm Thẻ Chân Trắng Không?
Việc bổ sung bột vẹm nâu vào khẩu phần ăn đã giúp tăng đáng kể [...]
Th2
Phần 2: Việc Sử Dụng Molybdate Trong Giai Đoạn Đầu Phát Triển Của Tôm Có Tác Dụng Ức Chế Sự Hình Thành Sunfua Ở Đáy Ao Tôm
3. Kết quả 3.1. Thời điểm cạn kiệt oxy và sản sinh H2S trong quá trình nuôi [...]
Th1
Phần 1: Việc Sử Dụng Molybdate Trong Giai Đoạn Đầu Phát Triển Của Tôm Có Tác Dụng Ức Chế Sự Hình Thành Sunfua Ở Đáy Ao Tôm
Tóm tắt Hiện tượng thiếu oxy và sự hình thành sulfua do tích tụ chất [...]
Th1
Ảnh Hưởng Của Stress Trước Khi Giết Mổ Đến Chất Lượng Phi Lê Cá Rô Phi
Việc hạ mật độ và tăng thời gian lọc giúp nâng cao chất lượng hiệu [...]
Th1
Nghiên Cứu Thử Nghiệm Ba Loại Khoáng Chất Tự Nhiên Làm Chất Phụ Gia Thức Ăn Nhằm Cải Thiện Sức Khỏe Và Sự Tăng Trưởng Của Tôm Thẻ Chân Trắng
Kết quả nghiên cứu cho thấy illite có thể được sử dụng như một chất [...]
Th1
Phần 3: Chiết Xuất Bã Tinh Dầu Của Cây Tía Tô Có Hoạt Tính Sinh Học, Dùng Làm Chất Chống Oxy Hóa Và Chất Bảo Quản Chống Đen Cho Tôm Thẻ Chân Trắng
3. Kết quả và thảo luận 3.1. Chuẩn bị các chất chiết xuất từ cặn [...]
Th1
Phần 2: Chiết Xuất Bã Tinh Dầu Của Cây Tía Tô Có Hoạt Tính Sinh Học, Dùng Làm Chất Chống Oxy Hóa Và Chất Bảo Quản Chống Đen Cho Tôm Thẻ Chân Trắng
2. Vật liệu và phương pháp 2.1. Các sản phẩm phụ của tinh dầu và [...]
Th1