Các dự án nghiên cứu từ Trung tâm Nuôi trồng Thủy sản Nhiệt đới và Cận nhiệt đới (CTSA) nêu bật tiềm năng của việc tái chế các phụ phẩm trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản để sản xuất thức ăn thủy sản giàu protein – và khả năng giảm thiểu chất thải của các phụ phẩm này.

Sử dụng phụ phẩm và protein thực vật thay vì bột cá có thể làm cho thức ăn thủy sản bền vững hơn
Nuôi trồng thủy sản có nhiều hứa hẹn sẽ tác động tích cực đến an ninh lương thực, nền kinh tế và môi trường ở các đảo của Thái Bình Dương. Tuy nhiên, việc phát triển nuôi trồng thủy sản thương mại trong khu vực phải đối mặt với một số thách thức, một trong những thách thức đáng kể nhất là khả năng tiếp cận thức ăn thủy sản với giá cả phải chăng vẫn còn hạn chế. Để giải quyết điểm vấn đề này, CTSA đã tài trợ một số dự án bao gồm dự án đang triển khai để phát triển thức ăn chăn nuôi sử dụng nguyên liệu địa phương.
Trong những năm gần đây, CTSA đã tập trung vào những nghiên cứu phù hợp với nuôi trồng thủy sản “tái sinh”, đây là ý tưởng sản xuất đồng thời thức ăn, giảm thiểu chất thải và cung cấp các tác động có lợi cho môi trường; điều này bao gồm những nghiên cứu với mục đích chuyển đổi các sản phẩm được coi là “chất thải” thành các thành phần protein có thể sử dụng được cho thức ăn thủy sản. Loại hình nghiên cứu này nhằm mục đích nâng cao khả năng sản xuất lương thực của địa phương và giảm lượng chất hữu cơ được thải vào các đảo.
Tại Quần đảo Marshall, dự án CTSA “Thiết lập hiệu quả về chi phí và lợi ích của thức ăn sản xuất tại địa phương với công nghệ Moi ở Cộng hòa Quần đảo Marshall” đã phát triển và đang cải tiến thức ăn cho Họ cá vây tua Thái Bình Dương (Moi) bằng cách sử dụng các nguyên liệu địa phương, chủ yếu là từ các hoạt động đánh bắt cá thương mại. Phụ phẩm phần lớn được coi là phế phẩm và thường sẽ được vứt bỏ ngay lập tức khi không sử dụng; tuy nhiên, nó đang được sử dụng để tạo ra một chế độ ăn giàu protein cho các loài quan trọng trong khu vực.
Các công thức thức ăn khác nhau vẫn đang trong quá trình thử nghiệm để xác định công thức hiệu quả nhất nhằm giảm sự phụ thuộc vào thức ăn nhập khẩu đắt đỏ. Một dự án CTSA tương tự ở Samoa thuộc Mỹ cũng đang được thực hiện để tạo ra chế độ ăn bao gồm các nguyên liệu sẵn có tại địa phương như phụ phẩm bột cá từ nhà máy đóng hộp cá ngừ và các loại tinh bột trên đảo bao gồm chuối, khoai môn và sa kê.
Trong dự án “Sử dụng phụ phẩm chế biến nông sản địa phương để tạo ra protein từ nấm cho sản xuất thức ăn thủy sản”, các nhà nghiên cứu của Đại học Hawaii đã phát triển thành phần protein từ nấm cho thức ăn thủy sản bằng cách sử dụng các phế phẩm nông nghiệp sẵn có tại địa phương. Thành phần này đã được kiểm chứng trong các thử nghiệm cho ăn và kết quả cho thấy nó có thể thay thế 25% protein bột cá mà không ảnh hưởng đến năng suất tăng trưởng của tôm.

Protein từ nấm trong các thử nghiệm cho ăn gần đây cho thấy nhiều hứa hẹn với tôm
Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm các phế phẩm nông nghiệp khác nhau bao gồm mật đường, men bia và nước thải đậu phụ để xác định chất nền tốt nhất cho việc phát triển sinh khối nấm; họ phát hiện ra rằng nước thải từ sản xuất đậu phụ là một chất lý tưởng để phát triển sinh khối giàu protein. Nước thải có chứa váng sữa, một trong những phụ phẩm của quá trình sản xuất đậu phụ chảy ra từ sữa đông khi nó đang được ép. Người ta ước tính rằng chỉ có một nhà sản xuất đậu phụ địa phương ở Hawaii sản xuất khoảng 100 – 150 gallon váng sữa mỗi ngày, loại váng sữa này thường bị loại bỏ vì không có tác dụng thực tế. Có nhiều tiềm năng để công nghệ này được áp dụng vào sản xuất thức ăn địa phương và tạo nguồn doanh thu mới từ những thứ thường bị loại bỏ.
Tương tự, một dự án khác gần đây của UH, “Nâng cao hiệu quả chi phí sản xuất thức ăn thủy sản địa phương từ chất thải của đu đủ thông qua chế biến sinh học sáng tạo” cũng sản xuất thành phần thức ăn thủy sản từ các phụ phẩm nông nghiệp thường bị vứt bỏ.
Ở Hawaii có rất nhiều đu đủ chín, nó được sử dụng để nuôi cấy một loại bột men giàu protein. Các nhà nghiên cứu đã thiết lập và đánh giá quy trình để sử dụng lại các thiết bị chế biến trái cây đơn giản, không có sẵn cùng với lò sấy và hệ thống sàng để sản xuất nước đu đủ từ những trái đu đủ nguyên. Nước ép được sử dụng để nuôi cấy bột men từ Yarrowia lipolytica. Bột men đã được thêm vào khẩu phần ăn thử nghiệm cho cá rô phi lai, và kết quả cho thấy thành phần này có thể thay thế tới 25% bột cá trong thức ăn thủy sản.
Các dự án do CTSA tài trợ này chỉ là một vài ví dụ về cách mà các phụ phẩm nông nghiệp và thủy sản thường được coi là chất thải có thể được chuyển đổi thành các nguyên liệu thức ăn có thể sử dụng được và bổ dưỡng. Khi phản ánh về cách để cải thiện việc sử dụng các nguồn tài nguyên quý giá của Trái đất, CTSA thách thức các bên có liên quan nhìn về tương lai và xem xét các cách hiệu quả nhất để thúc đẩy nhu cầu sản xuất lương thực với số lượng ngày càng tăng từ các nguồn dinh dưỡng chưa được sử dụng.
Theo The Fist Site
Biên dịch: Huyền Thoại – Công ty TNHH PTTS Bình Minh
“Tôm Giống Gia Hóa – Chìa Khóa Thành Công”
Xem thêm:
- Chu Kỳ Sáng – Tối Tác Động Như Thế Nào Đến Quá Trình Sinh Lý Của Tôm Thẻ Chân Trắng?
- Robin McIntosh Của CP Foods Dự Đoán Sản Lượng Tôm Toàn Cầu Sẽ Vượt 5 Triệu Tấn Vào Năm 2022
- Sức Khỏe Của Hệ Vi Sinh Vật Đường Ruột Ở Tôm Post L. Vannamei Bị Ảnh Hưởng Sau Khi Giảm Độ Mặn
English
中文 (中国)
SẢN PHẨM PHỤC VỤ NỀN NÔNG NGHIỆP XANH
TIN TỨC NỔI BẬT
Phần 2: Đánh Giá Chiết Xuất Protein Từ Ấu Trùng Sâu Bột Vàng (Tenebrio molitor) Như Một Chất Bảo Vệ Chống Đông Lạnh Cho Tôm Thẻ Chân Trắng Đông Lạnh
3. Kết quả và thảo luận 3.1. Hoạt tính bảo vệ chống đông lạnh của [...]
Th8
Phần 1: Đánh Giá Chiết Xuất Protein Từ Ấu Trùng Sâu Bột Vàng (Tenebrio molitor) Như Một Chất Bảo Vệ Chống Đông Lạnh Cho Tôm Thẻ Chân Trắng Đông Lạnh
Tóm tắt Nghiên cứu này đánh giá khả năng ứng dụng chiết xuất protein từ [...]
Th8
Phần 2: Nuôi Tích Hợp Tôm Thẻ Chân Trắng (Penaeus vannamei) Và Cá Rô Phi (Oreochromis niloticus) Thông Qua Cải Tạo Đất
3. Kết quả 3.1. Chất lượng đất Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của [...]
Th8
Phần 1: Nuôi Tích Hợp Tôm Thẻ Chân Trắng (Penaeus vannamei) Và Cá Rô Phi (Oreochromis niloticus) Thông Qua Cải Tạo Đất
Tóm tắt Nuôi tôm thẻ chân trắng trong các ao ven biển thường gặp nhiều [...]
Th8
Phần 2: Lớp Phủ Ăn Được Chứa Chitosan, Nisin Và Chiết Xuất Vỏ Khoai Tây Giúp Kéo Dài Thời Hạn Sử Dụng Của Tôm Sú (Penaeus monodon) Bảo Quản Lạnh
3. Kết quả và thảo luận 3.1. Tổng hàm lượng phenolic (TPC) của PPE Các [...]
Th8
Phần 1: Lớp Phủ Ăn Được Chứa Chitosan, Nisin Và Chiết Xuất Vỏ Khoai Tây Giúp Kéo Dài Thời Hạn Sử Dụng Của Tôm Sú (Penaeus monodon) Bảo Quản Lạnh
Tóm tắt Tôm sú (Penaeus monodon) là một trong những đối tượng nuôi có giá [...]
Th8
Tác Động Của Các Thành Phần Thức Ăn Mới Đến Sự Tăng Trưởng, Khả Năng Tiêu Hóa, Enzyme Và Biểu Hiện Gen Ở Tôm Thẻ Chân Trắng (Penaeus vannamei)
Trong bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản đang hướng đến phát triển bền vững, [...]
Th7
Tác Động Của Nuôi Tôm Đến Trữ Lượng Carbon Trong Đất Rừng Ngập Mặn Và Tiềm Năng Nóng Lên Toàn Cầu Kéo Dài
Rừng ngập mặn cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng, bao gồm [...]
Th7
Sự Di Cư Của Các Kiểu Hệ Vi Sinh Đường Ruột Do Sự Ấm Lên Toàn Cầu Tác Động Đến Sức Khỏe Và Tình Trạng Bệnh Tật Của Tôm Litopenaeus vannamei
Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trong những [...]
Th7
Vai Trò Then Chốt Của Dinh Dưỡng Và Thức Ăn Cho Cá: Những Tiến Bộ Gần Đây Và Triển Vọng Tương Lai Cho Ngành Nuôi Trồng Thủy Sản Brazil
Trong bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu đang hướng tới các mô [...]
Th7
Phân Tích Hiệu Suất Sản Xuất Nuôi Tôm Litopenaeus vannamei Và Chất Lượng Nước Trong Ao Đất Và Ao Lót HDPE
Sự gia tăng liên tục của nhu cầu hải sản trên thế giới đặt ra [...]
Th7
Cá rô phi có ăn lẫn nhau không? – Nguyên nhân và cách khắc phục
Trong nghề nuôi cá nước ngọt, cá rô phi là đối tượng nuôi phổ biến [...]
Th7