Đây là thông tin hiển thị trên website, KHÔNG dùng để quét mã QR. Vui lòng liên hệ 1900 86 68 69 nếu link QR dẫn đến trang web này.
Đây là thông tin hiển thị trên website, KHÔNG dùng để quét mã QR. Vui lòng liên hệ 1900 86 68 69 nếu link QR dẫn đến trang web này.

Cá được cho ăn khẩu phần ăn KDF phát triển nhanh hơn đáng kể so với nhóm đối chứng.

Cá rô phi được bổ sung kali diformat trong 74 ngày có tốc độ tăng trưởng tốt hơn so với cá trong nhóm đối chứng không bổ sung hợp chất này.
Cá rô phi được bổ sung kali diformat trong 74 ngày có tốc độ tăng trưởng tốt hơn so với cá trong nhóm đối chứng không bổ sung hợp chất này.

Trong hai thập kỷ qua, dù đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể về dinh dưỡng và công thức thức ăn cho cá rô phi nhằm đáp ứng xu hướng gia tăng cường độ sản xuất, các đợt bùng phát dịch bệnh trong ao nuôi vẫn thường xuyên xảy ra. Điều này không chỉ gây khó khăn cho hoạt động nuôi trồng mà còn dẫn đến việc gia tăng sử dụng kháng sinh. Trước thực trạng đó, nhận thức ngày càng cao của người tiêu dùng và các nhà sản xuất thủy sản đã thúc đẩy nhu cầu áp dụng các phương thức nuôi trồng có trách nhiệm hơn, trong đó đặc biệt nhấn mạnh việc hạn chế và giảm thiểu sử dụng kháng sinh.

Hiện nay, cơ quan quản lý tại hầu hết các quốc gia xuất khẩu đang siết chặt việc kiểm soát lạm dụng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản. Trước bối cảnh đó, nhiều loại phụ gia thức ăn thay thế kháng sinh vốn đã bị Liên minh châu Âu cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi từ năm 2006 đã được đưa vào nghiên cứu và thử nghiệm. Các nhóm sản phẩm như chiết xuất thảo dược, prebiotic, probiotic, cùng axit hữu cơ hoặc muối của chúng đã được đánh giá như những giải pháp thay thế tiềm năng cho kháng sinh, tuy nhiên kết quả thu được vẫn chưa đồng nhất và còn nhiều khác biệt.

Một số phụ gia cho thấy tiềm năng vượt trội thuộc nhóm axit hữu cơ và các muối của chúng. Nhận định này đã được củng cố qua một nghiên cứu gần đây, trong đó cá được bổ sung axit citric, axit formic và các dạng muối tương ứng trong khẩu phần ăn cho kết quả ổn định và nhất quán nhất. Trong nghiên cứu tiếp theo, nhóm tác giả tiếp tục đánh giá tác động của việc bổ sung axit formic dưới dạng muối kép kali lên các chỉ tiêu sản xuất của cá rô phi (Oreochromis niloticus).

Thử nghiệm cho ăn

Hình 1: Sự tăng trưởng của cá rô phi được cho ăn khẩu phần đối chứng và khẩu phần bổ sung KDF.
Hình 1: Sự tăng trưởng của cá rô phi được cho ăn khẩu phần đối chứng và khẩu phần bổ sung KDF.

Thí nghiệm cho ăn được thực hiện tại cơ sở Trạm Nước ngọt Binangonan, trực thuộc Khoa Nuôi trồng Thủy sản của Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC), tỉnh Rizal, Philippines. Mỗi bể polyethylene dung tích 240 lít trong hệ thống thay nước tĩnh được thả 25 cá rô phi đực, với khối lượng trung bình 7,84 ± 0,90 g. Cá được phân bố vào tám bể thí nghiệm, trong đó bốn bể được cho ăn khẩu phần thương mại tiêu chuẩn, và bốn bể còn lại được cho ăn thức ăn thương mại có bổ sung 0,3% kali diformat (KDF).

Thức ăn viên thương mại được nghiền mịn và sàng lọc trước khi sử dụng. Đối với khẩu phần thử nghiệm, 0,3% KDF được bổ sung vào thức ăn đã nghiền, trộn đồng nhất, ép lại thành viên và sấy khô. Thành phần dinh dưỡng gần đúng của thức ăn thương mại bao gồm 31,4% protein thô, 6,9% lipid thô, 8,6% xơ thô, 52,3% chất chiết xuất không chứa nitơ, 0,8% tro và 2,4% độ ẩm. Cá ở cả hai nghiệm thức được cho ăn ba lần mỗi ngày, với khẩu phần tương đương 5% khối lượng cơ thể.

Cứ mỗi ba ngày, 80% lượng nước trong hệ thống được thay mới, thực hiện một giờ sau khi hoàn tất việc cấp nước buổi sáng. Các chỉ tiêu chất lượng nước gồm oxy hòa tan, nhiệt độ, pH và amoniac được theo dõi và ghi nhận trước khi tiến hành thay nước. Thí nghiệm được triển khai liên tục trong 74 ngày.

Kết quả

Các thông số chất lượng nước trong suốt thử nghiệm KDF đều nằm trong giới hạn phù hợp cho sự sinh trưởng của cá rô phi. Nồng độ oxy hòa tan trung bình đạt 6,3 ± 1,5 mg/L, nhiệt độ nước 26,7 ± 0,8 °C, pH ở mức 6,8 ± 1,3 và hàm lượng amoniac luôn duy trì dưới 0,02 mg/L.

Như thể hiện ở Hình 1, cá rô phi được cho ăn khẩu phần bổ sung KDF có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với nhóm đối chứng. Đến ngày kết thúc thí nghiệm, trọng lượng trung bình của cá trong nhóm KDF đạt 51,40 ± 2,23 g, cao hơn đáng kể so với 45,45 ± 1,12 g ở nhóm đối chứng. Đồng thời, tốc độ tăng trưởng cụ thể của cá rô phi sử dụng khẩu phần KDF cũng ghi nhận sự cải thiện rõ rệt (Bảng 1).

Bảng 1. Các chỉ tiêu sản xuất của cá rô phi được nuôi bằng khẩu phần đối chứng và khẩu phần bổ sung KDF. Các giá trị trung bình trong cùng một hàng mang ký hiệu chú thích khác nhau thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05).

Tham số Khẩu phần ăn đối chứng Khẩu phần ăn KDF
Khối lượng ban đầu (g) 7,84 ± 0,89 7,84 ± 0,89
Khối lượng cuối cùng (g) 45,45 ± 1,12 b 51,40 ± 2,23 a
Tăng cân (%) 479,76 ± 14,29 b 555,66 ± 28,52 a
Sống sót (%) 99,0 ± 2,0 99,0 ± 2,0
Tốc độ tăng trưởng hàng ngày (g) 0,508 ± 0,015 b 0,589 ± 0,030 a
Tốc độ tăng trưởng cụ thể 2,38 ± 0,03 b 2,54 ± 0,06 a
Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn 1,97 ± 0,07 a 1,81 ± 0,09 b

Vào ngày nuôi thứ 74, cá rô phi được cho ăn khẩu phần KDF đạt tốc độ tăng trưởng trung bình hằng ngày 0,589 ± 0,030 g, cao hơn so với 0,508 ± 0,015 g ở nhóm đối chứng. Tỷ lệ sống của cá giữa hai nhóm không ghi nhận sự khác biệt đáng kể. Tuy nhiên, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR) của nhóm sử dụng khẩu phần KDF được cải thiện rõ rệt, đạt 1,81 ± 0,09, thấp hơn so với 1,97 ± 0,07 ở nhóm đối chứng.

Theo Christian Lückstädt, Maria Lourdes A. Cuvin-Aralar, Kai-Jens Kühlmann

Nguồn: https://www.globalseafood.org/advocate/dietary-potassium-diformate-improves-growth-performance-of-male-nile-tilapia/

Biên dịch: Nguyễn Thị Quyên – Tôm Giống Gia Hoá Bình Minh

Xem thêm:

You cannot copy content of this page