Các tác giả đã nghiên cứu cả tôm biển và tôm nước ngọt.

Để duy trì và thúc đẩy sự phát triển của ngành nuôi tôm tại những khu vực khó cạnh tranh với nguồn tôm nhập khẩu giá rẻ, việc hướng đến các phân khúc thị trường có giá trị cao là một giải pháp quan trọng. Trong đó, thị trường tôm sống được xem là một hướng đi đầy tiềm năng nhờ khả năng mang lại giá bán cao hơn đáng kể so với tôm đông lạnh hoặc tôm nhập khẩu thông thường.
Do việc vận chuyển tôm sống đường dài đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và chi phí lớn, nhiều nhà nhập khẩu gặp không ít hạn chế trong việc cung ứng sản phẩm này. Đây chính là cơ hội để các quốc gia sản xuất tôm đang phát triển khai thác thị trường nội địa và khu vực bằng các sản phẩm hải sản sống chất lượng cao, từ đó nâng cao giá trị thương phẩm và tăng hiệu quả kinh tế cho người nuôi.
Thị trường ngách tiềm năng
Tôm hiện là mặt hàng hải sản được tiêu thụ nhiều nhất tại Hoa Kỳ, với mức tiêu thụ bình quân đầu người khoảng 1,8 kg mỗi năm. Trong đó, hơn 90% lượng tôm tiêu thụ tại thị trường này là sản phẩm nhập khẩu và phần lớn đến từ các hệ thống nuôi trồng thủy sản thay vì khai thác tự nhiên.
Trước nhu cầu tiêu thụ ngày càng lớn, Hoa Kỳ đang đặc biệt quan tâm đến việc mở rộng và phát triển ngành nuôi tôm trong nước. Thực tế cho thấy, cả mô hình nuôi tôm biển lẫn tôm càng nước ngọt trong ao hoặc hệ thống nuôi tuần hoàn (RAS) đều đã được chứng minh khả thi về mặt kỹ thuật, và hiện nay đã có nhiều doanh nghiệp thương mại áp dụng các mô hình này.
Tuy nhiên, ngành nuôi tôm tại Mỹ vẫn gặp không ít thách thức khi chi phí sản xuất nội địa cao hơn đáng kể so với nhiều quốc gia xuất khẩu khác. Đồng thời, nguồn cung tôm nhập khẩu dồi dào trên thị trường cũng tạo áp lực cạnh tranh lớn đối với sản phẩm tôm thương phẩm trong nước.
Mặc dù vậy, phân khúc tôm sống vẫn được xem là cơ hội đầy tiềm năng cho ngành nuôi tôm tại Mỹ. Do việc vận chuyển tôm sống từ nước ngoài gặp nhiều hạn chế và khó khăn về logistics, các trang trại nuôi trong nước có lợi thế lớn trong việc cung cấp sản phẩm tươi sống, chất lượng cao và đáp ứng nhanh nhu cầu thị trường.
Vận chuyển tôm sống

Một nhà nghiên cứu đang kiểm tra sức khỏe của tôm sau quá trình vận chuyển trước khi thả trở lại môi trường nước.
Hiện nay, việc vận chuyển tôm sống trong nước hoàn toàn khả thi khi các yếu tố như nhiệt độ, nồng độ oxy, amoniac và carbon dioxide được kiểm soát phù hợp. Tuy nhiên, do nước có trọng lượng lớn, chi phí vận chuyển trên quãng đường dài thường rất cao.
Chính vì vậy, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm phát triển các phương pháp xử lý và đóng gói giúp vận chuyển tôm sống mà không cần sử dụng nước. Giải pháp này không chỉ góp phần giảm đáng kể chi phí logistics mà còn mở ra tiềm năng nâng cao hiệu quả trong chuỗi cung ứng thủy sản sống.
Sau khi thu hoạch, tôm cần được xử lý và chuẩn bị cẩn thận trước khi vận chuyển nhằm đảm bảo duy trì tỷ lệ sống và chất lượng sản phẩm. Quy trình này thường bao gồm các bước chính sau:
- Tôm được gây mê trong nước bằng phương pháp hạ nhiệt độ từ từ với đá lạnh. Tôm cùng nước nuôi được chuyển sang bể nhỏ có hệ thống sục khí liên tục. Đá được bổ sung dần để giảm nhiệt độ một cách ổn định, đồng thời duy trì nồng độ oxy hòa tan luôn trên 5 mg/L nhằm hạn chế stress cho tôm.
- Vật liệu đóng gói được ngâm trước trong cùng nguồn nước với tôm để tránh gây sốc môi trường. Sau khi làm lạnh, vật liệu này được trải thành một lớp dưới đáy túi vận chuyển trong suốt. Tôm được xếp thành một lớp duy nhất trên bề mặt vật liệu ẩm nhằm hạn chế va chạm và tổn thương trong quá trình di chuyển.
- Túi vận chuyển sau đó được bơm đầy oxy tinh khiết từ bình chứa và buộc kín để duy trì điều kiện sống ổn định cho tôm. Trong các nghiên cứu thực nghiệm, nhiệt độ được kiểm soát bằng buồng điều nhiệt nhằm duy trì môi trường thích hợp cho tôm trong thời gian lên đến 72 giờ.
- Khi đến nơi, tôm được mở bao và kiểm tra tình trạng sống thông qua hoạt động của mang hoặc phản ứng với các kích thích nhẹ. Sau đó, tôm sẽ được đưa vào hệ thống nuôi tiếp theo hoặc chuyển sang chế biến tùy theo mục đích sử dụng.
Nghiên cứu với tôm nước ngọt và tôm biển
Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu phương pháp vận chuyển không sử dụng nước thông qua các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm trên hai đối tượng gồm tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) và tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii).
Đối với tôm thẻ chân trắng, yếu tố đầu tiên được đánh giá là tốc độ gây mê bằng phương pháp hạ nhiệt, với các mức giảm nhiệt lần lượt là 5,0; 7,5 và 10,0°C mỗi giờ. Nhiệt độ ban đầu được duy trì ở mức 30°C, tương đương điều kiện nuôi thực tế. Sau đó, tôm được giữ ở nhiệt độ gây mê nhằm mô phỏng điều kiện vận chuyển.
Kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ sống của tôm khi làm lạnh ở tốc độ lên đến 10°C/giờ. Các thí nghiệm duy trì tôm ở mức nhiệt 10, 12, 15 và 20°C trong thời gian tối đa 72 giờ cho thấy khoảng nhiệt độ thích hợp nhất cho vận chuyển nằm trong khoảng từ 12–15°C.
Nghiên cứu cũng đánh giá nhiều loại vật liệu dùng để đóng gói tôm như mùn cưa, giấy báo và giấy in báo. Trong đó, mùn cưa cho hiệu quả vượt trội hơn đáng kể so với các vật liệu còn lại. Nguyên nhân là giấy báo và giấy in dễ bám dính vào cơ thể tôm, làm cản trở quá trình hô hấp trong môi trường không khí ẩm, đồng thời gây mất vệ sinh và làm tăng tỷ lệ chết.
Quá trình hồi phục sau vận chuyển diễn ra tương đối thuận lợi. Những con tôm sống sót sau quá trình vận chuyển mô phỏng không dùng nước có khả năng thích nghi trở lại với nhiệt độ bể nuôi lên đến 30°C, bất kể mức nhiệt gây mê trước đó.
Kết quả
Sự kết hợp hiệu quả trong vận chuyển tôm biển không cần nước thường bao gồm gây mê kết hợp hạ nhiệt độ nước với tốc độ khoảng 10°C mỗi giờ, sau đó giữ tôm ngoài nước ở mức nhiệt 12–15°C bằng mùn cưa ẩm trong thời gian 24 giờ. Với quy trình này, tỷ lệ sống của tôm thường đạt trên 95%. Khi thời gian bảo quản kéo dài quá 24 giờ, tỷ lệ sống giảm dần và có thể duy trì ở mức trung bình đến thấp trong khoảng tối đa 72 giờ.
Các quy trình vận chuyển không cần nước được áp dụng thành công trên tôm biển cũng đã được thử nghiệm trên tôm nước ngọt. Điều kiện tối ưu nhìn chung tương tự, tuy nhiên tôm nước ngọt có khả năng chịu lạnh kém hơn. Dù nhiệt độ 15°C vẫn cho tỷ lệ sống cao, nhưng khi nhiệt độ giảm xuống dưới 14°C, phần lớn tôm nước ngọt không thể sống sót.
Theo George J. Flick, David D. Kuhn
Nguồn: https://www.globalseafood.org/advocate/shrimp-out-of-water/
Biên dịch: Nguyễn Thị Quyên – Tôm Giống Gia Hoá Bình Minh
Xem thêm:
- Vô Trùng Là Yếu Tố Then Chốt Để Ngăn Ngừa Ô Nhiễm Trong Các Trại Giống Tôm
- Các Quy Trình An Toàn Sinh Học Cần Thiết Cho Thức Ăn Và Phương Pháp Cho Ăn Tôm
- Phân Tích Phiên Mã mRNA và RNA Vòng Cho Thấy Việc Bổ Sung Lactiplantibacillus Plantarum Đông Khô Vào Khẩu Phần Ăn Giúp Tăng Cường Trí Nhớ Miễn Dịch Của Tôm Thẻ Chân Trắng (Penaeus vannamei) Chống Lại Mầm Bệnh
English
中文 (中国)
SẢN PHẨM PHỤC VỤ NỀN NÔNG NGHIỆP XANH
TIN TỨC NỔI BẬT
Vận Chuyển Tôm Sống Trong Điều Kiện Không Có Nước
Các tác giả đã nghiên cứu cả tôm biển và tôm nước ngọt. Để duy [...]
Th6
Xử Lý Gốc Rạ Trong Mô Hình Tôm Lúa
Đối với mô hình tôm lúa, việc quản lý và chuẩn bị ao nuôi đóng [...]
Th6
Tôm Thẻ Gia Hóa Bình Minh Thế Hệ Mới – Dòng Tôm Cân Bằng Tính Trạng SPF Và SPR
Trong bối cảnh dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp, người nuôi không chỉ [...]
Th6
Nên Cấy Hay Sạ Lúa Trong Mô Hình Tôm Lúa Để Đạt Năng Suất Tối Ưu?
Mô hình tôm lúa xen canh đang ngày càng khẳng định vị thế là một [...]
Th6
Tảo Chlorella Được Nghiên Cứu Như Một Nguồn Protein Trong Thức Ăn Cho Cá Rô Phi
Cá đạt được tốc độ tăng trưởng tốt, với hiệu quả chuyển đổi thức ăn [...]
Th6
Biofloc: Thành Phần Bền Vững Mới Cho Thức Ăn Tôm
Biofloc có thể là một lựa chọn thay thế phù hợp, nếu không muốn nói [...]
Th6
Nồng Độ Nitrat Cao Gây Độc Cho Tôm
Độc tính là vấn đề nghiêm trọng hơn ở những vùng nước có độ mặn [...]
Th6
Mùi Vị Lạ Trong Các Sản Phẩm Nuôi Trồng Thủy Sản, Phần 3
Ảnh hưởng của thức ăn chăn nuôi, quá trình chế biến và bảo quản. Xu [...]
Th6
Mùi Vị Lạ Trong Các Sản Phẩm Nuôi Trồng Thủy Sản, Phần 2
Nước sử dụng trong nuôi trồng thủy sản có thể bị ảnh hưởng bởi các [...]
Th6
Mùi Vị Lạ Trong Các Sản Phẩm Nuôi Trồng Thủy Sản, Phần 1
Geosmin, 2-Methylisoborneol Đặc tính cảm quan của cá và các loài động vật có vỏ [...]
Th5
Nuôi Cá Rô Phi Lai Trong Hệ Thống Sản Xuất Sinh Học Ngoài Trời
Hàm lượng protein dễ tiêu hóa có thể được giảm bớt mà không ảnh hưởng [...]
Th5
Cá Rô Phi: Khám Phá Nguồn Gốc Và Môi Trường Sống
Cá rô phi được xem là biểu trưng cho khả năng thích nghi , khoẻ [...]
Th5