
Các chuyên gia tại một cuộc tham vấn đã nhấn mạnh đến việc xây dựng thương hiệu tôm sú (BTS) hay (Penaeus monodon) của Bangladesh trên toàn cầu để thúc đẩy doanh thu xuất khẩu, lĩnh vực bị suy thoái trong hơn một thập kỷ qua. Ngoài ra, họ cũng đề xuất phát triển cơ sở hạ tầng quy mô lớn ở các vùng nuôi tôm với sự đầu tư cần thiết để đạt được sản lượng và xuất khẩu mong muốn từ loài tôm thẻ chân trắng mới được thông qua.
Những nhận xét này được đưa ra vào ngày cuối cùng của Hội thảo tham vấn chuyên gia CGIAR với tên gọi ‘Ngẫm lại về thị trường thực phẩm và chuỗi giá trị để hòa nhập và bền vững’, được tổ chức vào ngày 22 tháng 1, Financial Express đưa tin. CGIAR là một đối tác nghiên cứu toàn cầu hoạt động vì một tương lai an toàn thực phẩm, dành riêng cho việc chuyển đổi hệ thống lương thực, đất đai và nước trong bối cảnh khủng hoảng khí hậu.
Niềm đam mê sản xuất và xuất khẩu tôm của ngành đang dần phai nhạt kể từ năm tài chính 2013-2014. Theo Cục Xúc tiến Xuất khẩu (EPB), xuất khẩu tôm đạt đỉnh 550 triệu USD vào năm 2014 và bắt đầu giảm kể từ đó.
Sau hội thảo, CGIAR đã thực hiện một nghiên cứu trên diện rộng để ghi nhận lại các vấn đề mà ngành phải đối mặt, bao gồm các cuộc phỏng vấn với 25 chuyên gia của nhiều bên liên quan. Mặc dù việc phê duyệt và thử nghiệm tôm thẻ chân trắng đang diễn ra, nhưng nghiên cứu cho thấy sự nhiệt tình và lạc quan ban đầu xung quanh triển vọng xuất khẩu của tôm thẻ chân trắng đã phần nào giảm bớt. Hầu hết các bên liên quan đều tin rằng các cơ hội tốt nhất của Bangladesh vẫn nằm ở việc tập trung phát triển thị trường quốc tế và xây dựng thương hiệu tôm sú trên toàn cầu. Các chuyên gia cũng chỉ ra thị trường tôm và tôm càng xanh trong nước đang phát triển.
Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế, WorldFish, Liên minh Đa dạng Sinh học Quốc tế và Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế đã phối hợp tổ chức sự kiện này với tên gọi “Ngẫm lại về Thị trường Thực phẩm và Chuỗi Giá trị để Hòa nhập và Bền vững”. Nghiên cứu lưu ý rằng mặc dù có một số cải tiến về năng suất và áp dụng các biện pháp kỹ thuật hiện đại, bao gồm quản lý trang trại và thức ăn chăn nuôi, nhưng các vấn đề cơ cấu quan trọng vẫn tiếp tục gây khó khăn cho ngành, theo báo cáo của Daily Star. Có sự đồng thuận rằng, tôm không giống như các loài khác, cần có kiến thức kỹ thuật để sản xuất chúng.
Mohammad Mahfujul Haque, giáo sư nuôi trồng thủy sản tại Đại học Nông nghiệp Bangladesh ở Mymensingh, cho biết nếu không có kiến thức về kỹ thuật, nuôi tôm sẽ trở thành một hoạt động kinh doanh có rủi ro cao đối với các hộ nông dân nhỏ.
Tôm post sạch bệnh (SPF)
Ngoài ra, vẫn còn một thách thức khác liên quan đến việc đảm bảo tôm nuôi sạch bệnh. Bangladesh hiện có ít nhất ba trại sản xuất tôm SPF, giúp giảm thiểu những rủi ro này. Tuy nhiên, các hệ thống nuôi tôm quảng canh hiện nay đang hạn chế khả năng duy trì an toàn sinh học của nông dân. Dữ liệu gần đây cho thấy hầu hết các ao nuôi tôm thực tế cũng nuôi một số lượng cá đáng kể. Từ năm 2010-2011, trong tổng sản lượng từ “trang trại nuôi tôm” có đến 47% cá; đến năm 2020-2021, tỷ trọng cá đã tăng lên 53%. Mặc dù các trang trại như vậy hạn chế phạm vi chuyên canh và nuôi tôm thâm canh, nhưng nó lại bảo vệ nông dân khỏi những rủi ro cao liên quan đến nuôi tôm (dhakatribune.com).
Giáo sư Mohammad Mahfuzul Haque của Cục nuôi trồng thủy sản cho biết cần phải có thương hiệu tôm sú của bên thứ ba để thúc đẩy xuất khẩu trên toàn cầu. Các chuyên gia cho rằng, cũng có thể có cơ hội nhắm mục tiêu đưa tôm vào phân khúc thị trường ngách dựa trên sản xuất bền vững.
Haque cho biết: “Tôm sú là loài độc nhất của Bangladesh và chúng tôi cần chứng nhận cho các sản phẩm an toàn của mình từ các cơ quan và tổ chức chứng nhận được công nhận trên toàn cầu. Để đạt được điều này đó, chúng tôi cần áp dụng các phương pháp nuôi an toàn, bền vững, sử dụng tôm bố mẹ sạch mầm bệnh đặc trưng (SPF) và thay đổi một số yếu tố về cơ sở hạ tầng”.
Chính phủ gần đây đã xác nhận sản xuất tôm thẻ chân trắng. Haque nói: “Ngoài tôm sú, chúng tôi cũng sẽ thử sản xuất tôm thẻ chân trắng. Nhưng chúng tôi cần nghiên cứu thêm về thị trường cụ thể, xu hướng toàn cầu, phát triển cơ sở hạ tầng quy mô lớn và đầu tư cho tôm thẻ chân trắng.”
Monoj Kumar Mistri, phó giám đốc dự án Nuôi tôm bền vững do cục thủy sản điều hành, cho biết 7.500 nông dân thuộc 300 nhóm đã sử dụng tôm giống từ tôm bố mẹ sạch bệnh trong dự án của ông. Ông cho biết sản lượng đã tăng lên 1.500kg/ha so với 500kg trước đó.
Mistri cho biết ba trại sản xuất giống hiện đã cung cấp 700 triệu tôm post (PL), trong khi nhu cầu là 10 tỷ PL. Nhiều công ty sẽ sớm chuyển sang thành trại sản xuất giống SPF, khi đó sản lượng sẽ vượt hơn 5,0 tỷ PL. Tuy nhiên, Giáo sư Haque cho rằng việc thiếu các công ty thức ăn nuôi tôm trong nước là một vấn đề lớn đối với ngành. Đất nước này hoàn toàn phụ thuộc vào thức ăn tôm nhập khẩu.
Ông nói thêm rằng cũng cần có một chính sách tổng thể đối với tôm và một cơ quan chuyên trách cam kết phát triển ngành. Các bên liên quan khác nhau cho rằng các chính sách hỗ trợ ngành tập trung vào xuất khẩu nhiều hơn, nhưng đã đến lúc xây dựng một chính sách tập trung vào nông dân để giúp họ vượt qua những khó khăn mà họ đang gặp phải.
Theo Cục Thủy sản (Nguồn: The Daily Star), ngành tôm đang đảm bảo sinh kế của hơn 800.000 nông dân, những người cùng nuôi tôm trên 263.000 ha đất ở các vùng ven biển phía tây nam đất nước.
Theo Aqua Culture Asia Pacific
Biên dịch: Huyền Thoại – Tôm Giống Gia Hóa Bình Minh
“Tôm Giống Gia Hóa – Chìa Khóa Thành Công”
Xem thêm:
Đánh Giá Khẩu Phần Ăn Dinh Dưỡng Của Tôm Bố Mẹ
Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Huyết Tương Sấy Khô Trong Chế Độ Ăn Của Tôm Thẻ Chân Trắng Thái Bình Dương
English
中文 (中国)
SẢN PHẨM PHỤC VỤ NỀN NÔNG NGHIỆP XANH
TIN TỨC NỔI BẬT
Phần 2: Tận Dụng Đồng Thời Phế Thải Tôm Và Gỗ Nhiệt Đới Để Tạo Ra Vật Liệu Composite Giá Trị Cao: Nghiên Cứu Chế Tạo, Đặc Tính Và Khả Năng Hấp Phụ Thuốc Diệt Cỏ
4. Kết quả và thảo luận 4.1. Kết cấu của GH-SW-ACs Bảng 1 trình bày [...]
Th2
Phần 1: Tận Dụng Đồng Thời Phế Thải Tôm Và Gỗ Nhiệt Đới Để Tạo Ra Vật Liệu Composite Giá Trị Cao: Nghiên Cứu Chế Tạo, Đặc Tính Và Khả Năng Hấp Phụ Thuốc Diệt Cỏ
Tóm tắt Nghiên cứu này làm nổi bật tiềm năng khai thác các dòng chất [...]
Th2
Sử Dụng Mô Hình Gen Để Đánh Giá Năng Suất Thịt Của Tôm Thẻ Chân Trắng
Các mô hình gen đa đặc điểm cho thấy năng suất thịt có tính di [...]
Th2
Ảnh Hưởng Của Cường Độ Sục Khí, Chất Lượng Nước, Chu Trình Dinh Dưỡng Và Cấu Trúc Cộng Đồng Vi Sinh Vật Trong Hệ Thống Biofloc Đến Tôm Thẻ Chân Trắng
Cường độ sục khí thấp hơn tạo ra các hạt floc lớn hơn, đơn giản [...]
Th2
Xử Lý Váng Bọt Khó Tan Trong Ao Tôm
Váng bọt khó tan xuất hiện trong ao tôm là một trong những dấu hiệu [...]
Th2
Bột Vẹm Nâu Trong Thức Ăn Có Thể Thúc Đẩy Tăng Trưởng Và Khả Năng Chống Chịu Lạnh Của Tôm Thẻ Chân Trắng Không?
Việc bổ sung bột vẹm nâu vào khẩu phần ăn đã giúp tăng đáng kể [...]
Th2
Phần 2: Việc Sử Dụng Molybdate Trong Giai Đoạn Đầu Phát Triển Của Tôm Có Tác Dụng Ức Chế Sự Hình Thành Sunfua Ở Đáy Ao Tôm
3. Kết quả 3.1. Thời điểm cạn kiệt oxy và sản sinh H2S trong quá trình nuôi [...]
Th1
Phần 1: Việc Sử Dụng Molybdate Trong Giai Đoạn Đầu Phát Triển Của Tôm Có Tác Dụng Ức Chế Sự Hình Thành Sunfua Ở Đáy Ao Tôm
Tóm tắt Hiện tượng thiếu oxy và sự hình thành sulfua do tích tụ chất [...]
Th1
Ảnh Hưởng Của Stress Trước Khi Giết Mổ Đến Chất Lượng Phi Lê Cá Rô Phi
Việc hạ mật độ và tăng thời gian lọc giúp nâng cao chất lượng hiệu [...]
Th1
Nghiên Cứu Thử Nghiệm Ba Loại Khoáng Chất Tự Nhiên Làm Chất Phụ Gia Thức Ăn Nhằm Cải Thiện Sức Khỏe Và Sự Tăng Trưởng Của Tôm Thẻ Chân Trắng
Kết quả nghiên cứu cho thấy illite có thể được sử dụng như một chất [...]
Th1
Phần 3: Chiết Xuất Bã Tinh Dầu Của Cây Tía Tô Có Hoạt Tính Sinh Học, Dùng Làm Chất Chống Oxy Hóa Và Chất Bảo Quản Chống Đen Cho Tôm Thẻ Chân Trắng
3. Kết quả và thảo luận 3.1. Chuẩn bị các chất chiết xuất từ cặn [...]
Th1
Phần 2: Chiết Xuất Bã Tinh Dầu Của Cây Tía Tô Có Hoạt Tính Sinh Học, Dùng Làm Chất Chống Oxy Hóa Và Chất Bảo Quản Chống Đen Cho Tôm Thẻ Chân Trắng
2. Vật liệu và phương pháp 2.1. Các sản phẩm phụ của tinh dầu và [...]
Th1